Giới tính:
Sử dụng giờ thiên đỉnh, tính chính xác vị trí ngày sinh và nơi sinh, Phiên bản chữ trung quốc đang cập nhật một số từ còn thiếu.

Đăng lên hội quán

Đăng lá số lên hội quán của chúng tôi để được luận giải miễm phí!

-K. Tị

Quan Lộc

82

CỰ MÔN (H)
Thiếu dương
Thiên trù
Văn tinh
Thiên hỷ
Phong cáo
Thiên tài
L. Thiên hỷ

Đại hao
Cô thần
Kiếp sát
Thiên không
Đẩu quân

Năm Dậu

Tử

Tháng 7

+C. Ngọ

Nô Bộc

72

LIÊM TRINH (V)
THIÊN TƯỚNG (V)
Hoá lộc
Phượng các
Tả phù
Giải thần

Thiên thương
Tang môn
Bệnh phù
L. Tang môn

Năm Thân

Bệnh

Tháng 8

-T. Mùi

Thiên Dithân

62

THIÊN LƯƠNG (Đ)
Thiên việt
Văn xương
Văn khúc
Tam thai
Bát tọa
Thiên quý
Thiếu âm
Hỷ thần
Đường phù
Thiên quan
Ân quang

Năm Mùi

Suy

Tháng 9

+N. Thân

Tật Ách

52

THẤT SÁT (M)
Long trì
Hữu bật

Địa không
Quan phù
Phi liêm
Thiên sứ
TRIỆT

Năm Ngọ

Đế Vượng

Tháng 10

+M. Thìn

Điền Trạch

92

THAM LANG (V)
Hoa cái

Thái tuế
Phục binh
Thiên la
L. Thái tuế

Năm Tuất

Mộ

Tháng 6

LÁ SỐ TỬ VI

Họ Tên:

Âm Dương:

Dương Nữ (Âm Dương thuận lý)

Tuổi:

Giáp Thìn, 2025 tuổi thời điểm lập lá số

Ngày Sinh:

Ngày 26/3/2024 âm - Ngày 04/05/2024 dương

Can Chi:

ngày Mậu Thìn, tháng Mậu Thìn, năm Giáp Thìn

Sinh Giờ:

giờ Ất Mão (5: 41)

Cuc:

Thuỷ nhị cục (Cục Thuỷ khắc Mệnh Hoả)

Bản Mệnh:

Phú đăng HỎA (lửa ngọn đèn lớn)

Năm Lập:

Giáp Thìn 2024

Lập Lúc:

04/05/2024 tại Tuvibattu.vn

-Q. Dậu

Tài Bạch

42

THIÊN ĐỒNG (H)
Tấu thư
Thiên phúc
Nguyệt đức
Đào hoa
Địa giải
Thai phụ
L. Đào hoa

Tử phù
Lưu hà
TRIỆT

Năm Tị

Lâm Quan

Tháng 11

-Đ. Mão

Phúc Đức

102

THÁI ÂM (H)
Thiên y

Kình dương
L. Kình dương
Trực phù
Quan phủ
Thiên riêu
TUẦN

Năm Hợi

Tuyệt

Tháng 5

+G. Tuất

Tử Tức

32

VŨ KHÚC (M)
Hoá khoa
Quốc ấn
Thiên giải

Tuế phá
Tướng quân
Thiên hư
Địa võng
L. Thiên hư

Năm Thìn

Quan Đới

Tháng 12

+B. Dần

Phụ Mẫu

112

TỬ VI (M)
THIÊN PHỦ (M)
Lộc tồn
L. Lộc tồn
Bác sỹ
Thiên mã
L. Thiên mã

Địa kiếp
Điếu khách
Thiên khốc
L. Thiên khốc
TUẦN

Năm Tý

Thai

Tháng 4

-Đ. Sửu

Mệnh

2

THIÊN CƠ (Đ)
Thiên khôi
Phúc đức
Lực sỹ
Thiên đức

Đà la
L. Đà la
Quả tú
Phá toái

Năm Sửu

Dưỡng

Tháng 3

+B. Tý

Huynh Đệ

12

PHÁ QUÂN (M)
Hoá quyền
Thanh long

Bạch hổ
L. Bạch hổ

Năm Dần

Trường sinh

Tháng 2

-Â. Hợi

Phu Thê

22

THÁI DƯƠNG (H)
Long đức
Hồng loan
Thiên thọ
L. Hồng loan

Hoá kỵ
Hoả tinh
Tiểu hao
Thiên hình

Năm Mão

Mộc Dục

Tháng 1

Kim Hoả Thủy Thổ Mộc

(M)-Miếu Địa (V)-Vượn Địa (Đ)-Đắt Địa (H)-Hãm Địa

Cung mệnh

Cung Mệnh là cung vị làm cầu nối quan trọng nhất trong mệnh bàn là gốc vận mệnh của cả đời, phản ánh tài năng, thành tựu, năng lực biện luận,tiềm năng phát triển của một người. Sao trong cung Tài Bạch và cung Mệnh,có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ lẫn nhau hoặc chế buộc lẫn nhau.

Mệnh cung là cung vị điều khiển quan trọng nhất trong thập nhị cung của Mệnh bàn trong Tử vi, nó liên quan tới tất cả các cung khác trong Mệnh bàn, giống như bộ não của con người, là nơi tư duy, kế hoạch, phát hiệu thực thi lệnh, 11 cung còn lại tương đương với tứ chi bách hài, tuy phân công hợp tác, mỗi bộ phận một chức năng, nhưng đều phải do Mệnh bàn thống nhất chỉ huy và điều phối. Vị trí cát hung của các tinh diệu trong Mệnh bàn có thể dùng để phán đoán vận mệnh của một người. Nói cách khác, mệnh cách (kết cấu của vận mệnh) cuộc đời của mỗi người xấu hay tốt đều trực tiếp phản ánh tại Mệnh bàn. Dựa vào đặc tính các tinh diệu trong mệnh bàn, có thể phán đoán dung mạo, cá tính, tài năng, thành tựu trong đời của một người.

Mệnh cung là hiện, là Dương, còn Đối cùng với nó là Thiên di cụng lại là ẩn, Âm. Bởi vậy, để quan sát số mệnh, dung mạo, cá tính, tài năng của con người buộc phải tham khảo hàm ý ẩn ở trong cung Thiên di (xuất ngoại vận). Đặc biệt là khi trong Mệnh bàn không có chủ tinh, thì cát hung chủ tinh của Đối cung có thể phản ánh thất thành của vận mệnh. Ngoài ra, khi phán đoán vận mệnh, tài (tài bạch) và quan quan lộc) của một người, phải tham chiếu cung Tài bạch, Quan lộc trong tam hợp cung của Mệnh cung (tam phương), bởi vậy vận mệnh của một người và khả năng kinh tế, trang thái sự nghiệp, xuất ngoại vận đều liên quan với nhau.

Thân cũng có thể dùng để phán đoán vận thế sau này của một người. Mệnh cung bản tính tiên thiên (bẩm sinh), Thân cung phụ thuộc vào hành sự hậu thiên (sau này). Tiên thiên là gốc, là tiêu chuẩn cơ bản, hậu thiên là dụng, là thân phát, hai cung buộc phải tham khảo cùng nhau. Mệnh cung không cát mà Thân cung cát, dựa vào sự nỗ lực của cá nhân sau này, đồng thời nắm bắt được vận hạn và cơ hội trong cuộc đời, có thể bù đắp những khiếm khuyết bẩm sinh mà cải thiện vận mệnh. Ngược lại, tuy mệnh tốt, nhưng Thân cung và vận hạn không tốt, chỉ hơi bất cẩn là vận mệnh chuyển thành xấu. Thân cũng không thể đơn độc thành một cung vị, nó buộc phải đồng cung với một trong sáu cung là Mệnh cung, Tài bạch cung, Quan lộc cung, Thiên di cung, Phúc đức cung hoặc Phu thê cung.

Cung vị đồng cung của Thân cung nếu cát thì cát thêm cát; nếu là cung hung, thì hung thêm hung, đồng thời có các khuynh hướng sau:

(1) Mệnh Thân đồng cung: Biểu thị các tinh diệu trong mệnh cung đại diện cho số mệnh bẩm sinh có tính chủ quan mạnh mẽ, cả đời không dễ chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh, tức không dễ dàng để thay đổi vận mệnh.

(2) Phu thê với Thần đồng cung: Biểu thị chịu ảnh hưởng lớn của hôn nhân, bản thân có trách nhiệm với gia đình, coi trọng cuộc sống tình cảm gia đình, phu thê thường có cá tính, sở thích và hứng thú tương đồng.

(3) Tài bạch với nhân đồng cung: Biểu thị dễ bị hoàn cảnh kinh tế ảnh hưởng tới vận mệnh, bản thân coi trọng giá trị đồng tiền, nóng lòng muốn kiếm tiền.

(4) Quan lộc với Thần đồng cung: Biểu thị dễ bị nghề nghiệp chức vị, môi trường làm việc ảnh hưởng tới vận mệnh, bản thân coi trọng sự nghiệp.

(5) Thiên di với Thần đồng cung: Biểu thị dễ bị môi trường định cư của gia đình hay xuất ngoại ảnh hưởng tới vận mệnh, bản thân thường xuyên xuất ngoại, hơn nữa thường thay đổi về nghề nghiệp hoặc nơi ở.

(6) Phúc đức với Thần đồng cung: Biểu thị dễ bị tổ đức, nhân quả, cuộc sống tinh thần ảnh hưởng tới vận mệnh, bản thân khá biết hưởng thụ. Không có nghĩa biểu thị tiêu xài hoang phí | Sự phân bố của Thân cũng có quy luật:

1. Người sinh vào giờ Tý Ngọ, Thân cùng với Mệnh cung đồng cung.

2. Người sinh giờ Mão Dậu, Thân cũng nằm tại Thiên di đồng cung.

3. Người sinh giờ Dần Thân, Thân cũng nằm tại Quan lộc cung

4. Người sinh giờ Thìn Tuất, Thân cũng nằm tại Tài bạch cung.

5. Người sinh giờ Tỵ Hợi, Thân cũng nằm tại Phu thê cung.

6. Người sinh giờ Sửu Mùi, Thân cũng nằm tại Phúc đức cung.

- Khi Mệnh cung có thập tứ chủ tinh Tử vi hệ và Thiên phủ hệ, cát hung thể hiện rõ, không cần xem xét tới tác dụng của Thân cung. Mệnh cung không có thập tứ chủ tinh, tức đối cung (Thiên di cung) làm chủ tinh, coi là chủ tinh Mệnh cung, phán đoán thêm chủ tinh của Thiên di cung mạnh yếu, nhưng không hoàn toàn hiển hiện với Mệnh cung, xem tác dụng mạnh yếu chỉ có thể vì thất thành của sức mạnh vốn có. Đương nhiên là chủ tinh, cát tinh của Thiên di cung nhập miếu vượng là tốt. Lúc này, vẫn cần phải xem xét tới sức ảnh hưởng của Thân cung.

Khi Mệnh cung không có thập tứ chính diệu Tử Phủ, buộc phải coi trọng tác dụng của Thân cung, coi Thân cung và Thiên di cung là đối tượng nghiên cứu chủ yếu. Khi Mệnh cung và Thân cũng không có chính diệu, thì phải coi Thiên di cung là đối tượng trọng tâm. Cung vị của Thân cung, đa phần là nằm ngoài Mệnh cung, thì sức mạnh cát hung của cung vị mà nó vào sẽ nhỏ hơn Mệnh cung, nhưng lại mạnh hơn 10 cung khác.

Cung Mệnh an tại Sửu có sao Thiên Cơ

• Chủ về có bệnh về gan, tính tình nóng nảy, có hiện tượng mắt hoa chóng mặt, mệnh nữ kinh huyết tổn hư
• Hay bị tê thấp

Cung Mệnh an tại Sửu có sao Thiên cơ

• Thân hình cao, xương lộ, da trắng, mặt dài nhưng đầy đặn, rất thông minh khôn ngoan, có óc kinh doanh, có mưu trí quyền biển, tính nhân hậu, từ thiện, được hưởng giàu sang và sống lâu
• Sắc mặt trắng, tuổi già có thể chuyển thành màu xanh vàng. Khuôn mặt dài tròn hơi gầy, hoặc mặt dài tròn. Thiên Cơ nhập miếu thì thân dài, mập mạp, lạc hãm thì hơi gầy và thân người vừa hay cao. Thiên Cơ hội họp với các sao cát thì tâm nhân từ, hội hợp với hung sát tinh thì nước da trơn dầu; chủ về tính nóng vội, nhiều cơ mưu, hay thay đổi, hiếu động, hiếu học, nhưng dễ rơi vào ảo tưởng. Thiên cơ gặp nhiều sao sát kỵ, nếu sự nuôi dưỡng, giáo dục hậu thiên không tốt, sẽ dễ theo đám hạ lưu.
• Là người nhạy bén, giỏi mưu kế, có nhiều ý tưởng kì lạ, giỏi thâm nhập vào nội hàm của sự vật hơn người bình thường, khả năng phân tích và phán đoán rất tinh tế, không những lời nói sâu sắc mà còn có sức thuyết phục người khác. Nhưng những tính chất vừa kể có thể bị hiểu sai thành thiếu rộng lượng, hẹp hòi, đa nghi, mặt ưu điểm của họ là ôn hòa, dễ bảo, không thích gắng gượng tạo sự chú ý ... thì lại bị hiểu lầm thành người nhu nhược, lười biếng, trí tuệ ở vào hàng bậc nhất lại bị hiểu lầm thành người hay âm mưu làm chuyện xấu. Cho nên đàn ông Thiên cơ thủ mệnh rất có thể bị hiểu lầm thành người có tính cách như đàn bà. Còn phụ nữ Thiên Cơ thủ mệnh có thể bị hiểu lầm thành người giỏi biện luận, thích mới ghét cũ, hơi bị ... thần kinh chất! Nhất là phụ nữ "Thiên Cơ, Cự Môn" thủ mệnh ít nở nụ cười, khiến người ta cảm thấy họ có khuôn mặt khó coi, hình tượng bề ngoài không hấp dẫn có thể làm cho người ta có cảm giác sai lầm về lời nói và hành vi của một người; nhưng họ là người có năng lực lập kế hoạch rất tốt, suy nghĩ chu đáo; vì tâm thần không yên và lo lắng thái quá mà hình thành cá tính, có thể vì phương thức biểu đạt không hay cho lắm, khiến người khác giới hiểu lầm thành tính đa nghi, khó tin tưởng người khác, hay tính toán so đo, dễ nóng giận ... Thực ra người "Thiên Cơ, Cự Môn" muốn hóa giải nguy cơ hiểu lầm không phải là khó, chỉ cần thường hay mỉm cười, táng thêm thái độ thân thiện, hòa nhã, thì có thể giành được ấn tượng tốt.
• Người không cao, không thấp, hiền lành và khéo mọi nghề
• Tất sẽ có hứng thú say mê học một môn nào đó mà chẳng liên quan gì đến nghề nghiệp cả. Nếu như hội cát tinh, bản thân kiêm quản trách nhiệm kiểm đếm. Nếu như tứ sát mà hội chiếu thì có nguy hiểm yêu tho.
• Anh em chia rẽ, ít người, thiếu đoàn kết
• Là người thông minh, sắc sảo, tài hoa, vì thế nên bị đố kỵ ghen ghét
• Mặc dù Thiên Cơ là một sao thuộc loại thần kinh chất và không có chủ kiến, thiếu năng lực hành động, nhưng họ có sức chịu đựng rất mạnh và giỏi bày mưu kế, lấy nhu khắc cương. Do đó gặp những người phiền phức như Tử vi, Thiên Phủ, Thiên Lương thuộc thổ, trước mặt họ phải giương cờ trắng đầu hàng, không làm gì khác được. Tử vi gặp Thiên Cơ cũng giống như vua gặp ái phi, cam tâm tình nguyện bị thao túng; còn Thiên Phủ gặp Thiên Cơ thì giống như người mẹ gặp đứa con hư, chỉ có thể nghe lời nó chi phối; Thiên Lương nghiêm minh công chính, có thái độ nghiêm túc, điềm tĩnh, gặp Thiên Cơ, thì cũng giống như anh chàng mọt sách gặp kẻ nói dối, thường bị giờ trò đã đành, bị bán đứng rồi mà vẫn trợ giúp tiền bạc, ai bảo người ấy làm quân tử, vì yêu mà bị lừa.
• Bất luận là người Thiên Cơ độc tọa, hay tổ hợp "Thiên Cơ, Thiên Lương", "Thiên Cơ, Thái m", "Thiên Cơ, Cự Môn" thủ mệnh, trí não đều thuộc loại có đẳng cấp, người khác khó mà tưởng tượng nổi những điều trong đầu của họ. Những tổ hợp Thiên Cơ này, nếu không có tác động của tứ hóa thì anh tài của họ rất có thể bị mai một. Người Thiên Cơ thủ mệnh thỉnh thoảng tự khép kín, nhưng có khẩu tài và giỏi biện luận; họ có cảm giác bản thân rất ưu việt (Vĩ cuồng), tự cho mình là đúng!
• Phần lớn là những người có tính nóng nảy, dễ nổi giận, thậm chí vì tính nóng nảy mà dẫn đến hỏng việc. Những người có mệnh bàn như vậy cần học tính nhẫn nhịn. Nhiều ảo tưởng, cái mà lòng mình muốn thì lại không được, những cái mình không ngờ thì lại đến. Thích nghiên cứu học thuật, triết học, thần học nhưng phải bôn ba vất vả.
• Là người có lòng từ thiện

Cung Mệnh an tại Sửu có sao Thiên cơ

• Thân hình nở nang, hơi thấp, da trắng, mặt tròn, kém thông minh, cũng có óc kinh doanh, nhưng có tính gian xảo, thường phải buôn bán, ngược xuôi hay làm nghề thủ công để kiếm ăn. Tuy vậy, vẫn được no cơm, áo ấm và sống lâu

Sao Thiên Cơ, Thiên Lương cùng trong cung Mệnh

Sao Thiên Cơ là sao Thiện, đầu óc linh hoạt, phản ứng nhanh nhẹn, có trí tuệ vượt trội, giỏi việc phân tích và vạch kế hoạch; sao Thiên Lương là sao ấm, có duyên với bề trên, lạnh lùng xa cách, đầy ấp tình yêu thương.Hai sao cùng trong cung Thin (thiên la), cung Tuất (địa võng) mệnh cung. thành "thiện ấm triều cương cách", thông minh nhanh nhạy, đa mưu nhiều kế, nhìn xa trông rộng, giỏi ăn nói, có nhiều kỹ năng, tâm địa lương thiện, cảnh giới cao, khó tránh khỏi ít người hiểu và tiếp nhận, có nhiều hy sinh cống hiến, tuy kiên trì nguyên tác, nhưng thi thoảng cũng có hành vị thiên vi, tự làm tự phát triển, mọi chuyện đều kiến định, chú trọng công việc chứ không tính toán nhiều với người làm công việc đó, là người nhiệt tình chân thành, hành hiệp trượng nghĩa. Đồng thời, tam hợp hội chiếu sao Thái Âm, Thiên Đồng, thành “cơ nguyệt đồng lương cách", giỏi việc lập kế hoạch,năng lực làm việc và trợ lý tốt, nên làm nghề công giáo, truyền hình, văn hóa, bán hàng, ngoại giao, dựa vào cung Thìn thủ mệnh là tốt.

Sao Thiên Cơ trong cung Mệnh

Sao Thiên Cơ là một ngôi sao Thiện, có lòng trắc ẩn, hiển hòa nhiều tình cảm, có duyên với người khác giới, trí túc đa mưu, mưu mô xảo quyệt, học nhiều hành động nhiều, nhiều sáng kiến, tư duy như sóng biển lớn, khó định tâm, thích đưa ra ý kiến, sẻ chia khó khăn muộn phiến của người khác, giải trừ khó khăn, là một ngôi sao thông minh có thể phát huy hết sức khả năng động não. Sao Thiên Cơ tùy duyên, có đặc tính động, nhiều biến đổi thích làm mới, suy đoán, khó sống với cuộc sống cố định không biến đổi.

Sao Thiên Cơ độc tọa cung Mệnh

Sao Thiên Cơ độc tọa cung Ngọ may mắn hơn tọa cùng Tý, kể cả không có sao may mắn tương trợ, cũng có thể một mình đảm nhiệm một mảng, có biểu hiện trong sự nghiệp.

Sao Thiên Cơ lạc hãm độc tọa cung Mệnh

Thiếu tính ổn định, tâm thường biến động không yên, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh, thường xuyên thay đổi quan niệm, nhưng hành động lại không phù hợp với quan niệm, không tuân thủ quy tắc, nếu có thể làm cho bản thân thực sự bình tĩnh, thì mới có thể không bất ngờ với những biến đổi bên ngoài, lợi dụng sự biến đổi đó để đạt được thành công.

Sao Thiên Cơ, Thái Âm cùng trong cung Mệnh

Sao Thiên Cơ trong sự lanh lỏi vẫn có lòng tốt, có thiên bẩm phát minh sáng chế, không thích tuân thủ những quy định có sẵn; sao Thái Âm lãng mạn nhiều tình cảm, đầy những hy vọng hão huyền, hiển lành biết đủ. Hai sao kết hợp trong cung Mệnh, hoa cỏ hồ nước tĩnh lặng đẹp tuyệt vời, có trí tuệ, thông minh linh hoạt, nho nhã phong lưu, đa tài nghệ, xinh đẹp, là điểm sáng trong đám đông, có nhân duyên và được mọi người yêu quý, cả đời cơ hội chuyển biến nhiều. Nhiều tư duy, khó năm bắt, dễ sống trong cô độc, trong chuyện tình cảm dễ một lòng tình nguyện, yêu thích cái đẹp, khó tránh sự trôi dạt, có duyên với tôn giáo. Cơ, Nguyệt đồng tọa cung Mệnh, tam phương lại giao hợp sao Thiên Đồng, Thiên Lương thành “cơ nguyệt đồng lương cách", nên làm sự nghiệp có tính trí tuệ quần chúng như công giáo, truyền hình, văn hóa, phục vụ.

Sao Thiên Cơ trong cung Tài Bạch

Sao Thiên Cơ khiêm nhường khiêm tốn, tỉ mi cần thận, thông minh nho nhã, tài hoa thiên bẩm, đẩy hoài bão; sao Cự Môn kiên định ý kiến bản thân, cố chấp, bảo thủ nguyên tắc, trung thành với nhiệm vụ, chăm chỉ nghiên cứu. Hai sao cùng trong cung Mệnh, tràn đầy sức sống, thông minh sắc sảo, có tài biện luận, tính tình hoạt bát hướng ngoại, kết duyên nhanh, động lực mạnh, làm việc thông minh nhanh nhẹn, đôi lúc tâm thẳng miệng nhanh, hoặc chịu ảnh hưởng của tình cảm mà hỏng việc. Động lực đủ, ít tự xem xét kiểm điểm bản thân, dễ hiển thị rõ khiếm khuyết, thường mất nhiều hơn được. Mọi chuyện đều thường phá vô quy tắc vốn có, có sự sáng tạo mới, đặc biệt thành công với công việc nghiên cứu phát triển. Mọi chuyện đều không nhất định phải thành công, có nhiều cống hiến cho đời, thường là nhân sĩ quan trọng, trung tâm, nên thường là "để phúc cho con cháu", lợi người chứ không lợi bản thân.

Cung huynh đệ

Huynh đệ cũng dùng để phán đoán sự nông sâu duyên phận, tình cảm sâu đậm hay lạnh nhạt giữa một người và các anh chị em và cả việc anh chị em có hay không giúp ích cho người đó. Chính diệu của tam phương tứ chính trong cung Huynh đệ có thể luận cứ thành tựu của anh chị em. .

Huynh đệ cung chủ yếu suy luận quan hệ nhân tế nội tại (trong gia đình) của một người mà Bộc dịch cung (còn gọi là giao hữu cung) thì lại dùng suy luận quan hệ nhân tế ngoại tại (ngoài xã hội). Bởi thế mà, hai cung đối chiếu cùng xem có thể thể hiện năng lực giao tiếp mánh khóe, nhân quả của một người trong gia đình và ngoài xã hội. Bên cạnh đó, một người có thể không có anh chị em, nhưng nhất định phải có bạn bè, lúc này thì cung Bộc dịch càng phản ánh quan hệ nhân tế của người đó.

Xem cung Huynh đệ đầu tiên phải xem thêm cung Tật ách và cung Điền, trạch, bởi vì tương đồng huyết thống cùng bố mẹ sinh ra, sức khỏe của bản thân có thể phản ánh thể chất của họ; điền trạch của bản thân hoặc sau này được bố mẹ chia tài sản, họ cũng thường qua lại, cho nên phải đặc biệt quan tâm và coi trọng.

Cung Huynh đệ an tại Tý có sao Phá quân

• Chủ anh em không thích sống chung hoặc là không cùng chí hướng
• Mệnh tạo phần nhiều là con trưởng, hoặc không phải con trai trưởng, con gái trường mà đảm trách vai trò con trai trưởng, con gái trưởng. Thấy Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc thì quan hệ tốt đẹp, có thể được trợ lực

Cung Huynh đệ an tại Tý có sao Phá quân

Chủ anh em không thích sống chung hoặc là không cùng chí hướng

Cung Huynh đệ an tại Tý có sao Phá quân

May mắn lắm mới có một người phải mang cố tật hay bất hành nhân

Cung Huynh đệ an tại Tý có sao Phá quân

Ba người, khá giả những khiếm hòa, sớm xa cách nhau.

Cung Huynh đệ an tại Tý có sao Hóa Quyền

• Cung huynh đệ là cầu nối giữa cung mệnh và cung phu thê, cũng là cung vị phụ mẫu của cung phu thê; nếu Hóa Quyền ở cung huynh đệ, thường thường người này sẽ có mẹ chồng hay mẹ vợ khó khăn, chuyện gì cũng lớn giọng, không có lí cũng nói thành có lý, luôn phủ nhận những sai lầm của mình trước mặt con cái, đối với người phối ngẫu của con cái hay khiêu khích đủ điều.
• Vì cung huynh đệ là cung vị tài bạch của cung điện trạch, chủ về giá trị hiện tại của ngôi nhà. Lúc cung huynh đệ của lưu niên thấy Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền, thường thường chủ về bất động sản rất có giá trị. Người ta thường nói "có đất là có tiền", người có nhà đắt tiền thì phải có nhiều tiền; huống hồ cung huynh đệ còn là cung vị điền trạch của cung tài bạch. Nếu các sao trong cung tốt đẹp, chủ về có một ít tiền gửi trong ngân hàng, mà giá trị bất động sản cũng tăng nhanh.
• Đây là một loại cách cục "hoạnh phát", một thời kì nào đó trong cuộc đời bỗng nhiên vận xấu chạy mất, chỉ trong một đêm họ đột ngột có giá hơn gấp trăm lần, mà loại hoạnh phát này thường thường xuất phát từ "loạn thế xuất anh hùng", nhất là trường hợp đồng cung với "Sát Phá Tham" thì càng ứng. Đương nhiên, đồng thời cũng ngầm báo mệnh tạo có anh em bạn bè trợ giúp, chứ không phải chỉ dựa vào sức của một người.
• Anh chị em giỏi giang hơn mệnh chủ; giữa anh chị em dễ xảy ra tranh chấp, va chạm. Mệnh chủ thường hay giao quyền cho anh em, cho nên những lúc bàn bạc hay đề nghị, quyền quyết định ở anh em, bản thân mệnh chủ không có quyền, vì vậy tâm lý không được thăng bằng.
• Chủ về anh em ở thế mạnh, còn chủ về mệnh tạo giỏi quản lý tài chính, giỏi xoay chuyển tiền bạc, không thành một cao thủ quản lý tài chính thì cũng là người không sợ thiếu thốn về tiền bạc. Điều bất khả tư nghị nhất là phần nhiều mệnh tạo có sức đề kháng bệnh tật cực kỳ mạnh mẽ.
• Có thể bạn có anh chị em sáng suốt, giỏi giang; điều quan trọng hơn là, trong cuộc đời này bạn có cơ hội tích lũy được không ít tiền của hoặc có nhiều tiền gửi trong ngân hàng, mặc dù hiện tại bạn đang nghèo khổ, nhưng sau này bạn sẽ trở nên giàu có! Ngoài ra, Hóa Lộc hay Hóa Quyền ở cung huynh đệ còn quyết định mẹ vợ hoặc mẹ chồng là người tốt bụng, thân thiết hay là người hung hãn, giỏi giang; điều này còn phải xem sao hành hóa là sao nào mới định được cảnh ngộ gặp phải của bạn.
• Mệnh tạo cần phải có tâm lý chuẩn bị và biện pháp dự phòng, vì lưu lượng tiền mặt xoay chuyển có thể rất nhanh và rất nhiều, việc lập kế hoạch điều độ tiền mặt và quản lý rủi ro cần phải thận trọng hơn. Tốt nhất là Mệnh tạo phải có khoản tiền dự trữ bắt buộc để dự phòng.
• Đây là điềm triệu có tiền, như đã thuật nhiều lần ở trước, cung huynh đệ còn đại biểu cho "kho tiền", một người có tiền hay không thường then chốt năm ở cung này, nó còn là cung vị tài bạch của cung Điền Trạch, là cung vị dùng để đánh giá bất động sản. Do đó trường hợp cung Điền Trạch có Hóa Lộc, Hóa Quyền, hay Hóa Khoa, là chủ về có nhiều bất động sản, hoặc có "thứ gì đó" có thể đổi thành tiền. Nhưng trường hợp cung Huynh Đệ có Hóa Lộc, Hóa Quyền, hay Hóa Khoa, phần nhiều lại chủ về nhà rất đắt tiền.
• Là thiếu động lực và thiếu độ tích cực trong chuyện học hỏi; lấy mệnh tạo để nói là năng lực tinh thần kiềm chế, cần phải được khởi động mới có thể phát huy. Hóa Quyền ở "tha cung", lấy ý tượng: mệnh tạo là người khá bị động, dù có ham muốn được thành tựu, thường thường vẫn thấy thiếu năng lực thực hiện và sự kiên nhẫn.
• Anh em ưa can thiệp vào cuộc sống của mệnh tạo
• Dưới đây xin tóm tắt các ý tưởng cơ bản của trường hợp Hóa Quyền [năm sinh] ở cung huynh đệ như sau:
• (1) Như đã thuật ở trước, đối với các cung lục thân thì dùng phương pháp so sánh để luận đoán. Trường hợp Hóa Quyền rơi vào cung huynh đệ, là chủ về tính quyền uy, lực hành động, như vậy có thể biết anh em có uy hơn mệnh tạo, cũng tích cực hơn mệnh tạo, đồng thời các quyết định lớn nhỏ trong nhà cung đều do anh em làm chủ.
• (2) Hóa Quyền còn đại biểu cho kỹ năng chuyên nghiệp và năng lực chuyên môn, cho nên anh em của mệnh tạo phần nhiều là người có kỹ năng chuyên nghiệp. Nếu lấy cung huynh đệ lập thái cực mà Hóa Lộc và Hóa Kỵ nhập "ngà cung", thì anh em phần nhiều là người có địa vị xã hội.
• (3) Tiếp theo trên, Hóa Quyền ở cung huynh đệ, ở trong tuyến "huynh nô" là có ý so sánh đẳng cấp. Cho nên những người mệnh tạo giao du phân nhiều là người có địa vị xã hội cao hơn mệnh tạo. Do đó có thể suy ra mệnh tạo có quan hệ giao tế khá tốt, mà địa vị xã hội của mệnh tạo cũng nhờ đó mà được nâng lên.
• (4) Nhưng vì Hóa Quyền ở cung huynh đệ, nên mệnh tạo thiếu năng lực hành động, thiếu thực tiễn; phần nhiều còn trông cậy vào anh em. Muốn biết anh em trợ giúp có thực chất hay không thì phải xem tình hình Hóa Lộc, Hóa Kỵ và cung huynh đệ phi hóa như thế nào.
• (5) Vì Hóa Quyền ở cung huynh đệ, tất nhiên có tượng đè ép, nên phần nhiều mệnh tạo có anh trai hoặc chị gái, mà không phải là trưởng nam hay trưởng nữ (có thể là anh hay chị yếu mạng).
• (6) Bản chất của Hóa Quyền là "hóa" chủ về có biến động nhanh chóng, nóng bỏng. Trường hợp Hóa Quyền ở cung huynh đệ, thì sự qua lại giữa mệnh tạo và anh em khá nhiệt tình, dù quan hệ có thay đổi cũng không đến nỗi có chiến tranh lạnh.
• (7) Cung huynh đệ là "kho" của cung tài bạch, Hóa Quyền ở "kho tiền" tiếp theo điều (5), bản thân mệnh tạo điều độ tiền bạc khá nhanh, vì vậy phải có tiền lưu chuyển ở trong "kho", tất nhiên cũng có của cải để sử dụng. Đặc biệt là người có Hóa Lộc và Hóa Kỵ nhập "ngã cung", phần nhiều không cần lo lắng về tiền bạc, của cải.
• (8) Tiếp theo trên, nếu thấy Địa Không, Địa Kiếp và Hóa Quyền cùng ở cung huynh đệ, tình hình điều độ tiền bạc sẽ mỗi lúc càng ít đi, càng khó khăn hơn. Còn thấy Kình Dương, Đà La, thì việc điều độ càng kịch liệt, có cử chỉ miễn cưỡng, gắng gượng, lấy đằng đông đắp đằng tây.
• (9) Cung huynh đệ là cung vị khí số của cung tật ách, có Hóa Quyền, là chủ về thể chất mạnh mẽ dẻo dai, có thể chịu đựng sự đả kích từ bên ngoài của Hóa Kỵ, thường thường còn có lực đề kháng đối với tai hại bất ngờ.
• (10) Cung vị khí số của cung tật ách cũng là cung dùng để tìm hiểu tâm tư sâu kín. Hóa Quyền ở cung huynh đệ, chủ về tâm tư sâu kín của mệnh tạo vận tác một cách mau lẹ, trong đó mệnh tạo còn có kỳ vọng tự lập tự cường, và ý đồ phấn đấu đi lên (nhưng những kỳ vọng và ý đồ của mệnh tạo sẽ khó thực hiện, vì Hóa Quyền ở "tha cung" nên sức tưởng tượng lớn hơn lực tạo tác).
• (11) Cung huynh đệ ở giữa cung mệnh và cung phu thê, là cầu nối giữa mệnh tạo với người phối ngẫu, có Hóa Quyền, là chủ về mệnh tạo đang ở trong giai đoạn nói chuyện yêu đương, tác động lẫn nhau dồn dập, cũng không thiếu sự tranh chấp; cũng vì là cung vị cầu nối, nên còn có hàm ý mệnh tạo vì tình yêu mà phải bôn ba ngược xuôi.
• (12) Là cung vị cầu nối, mà còn là cung vị đại biểu cho mẹ, nên có thể xem là gia đình chồng hay gia đình vợ phát huy sức ảnh hưởng của mình, cũng có ý tượng xen vào cuộc sống hôn nhân của mệnh tạo; hơn nữa, lấy khái niệm so sánh để luận, cung huynh đệ có Hóa Quyền thì gia đình chồng hay gia đình vợ có quyền uy tuyệt đối, cũng có thể vì vậy mà cuộc sống hôn nhân của mệnh tạo không được yên ổn.
• (13) Vì cung huynh đệ là cung vị đại biểu cho me, do đó mẹ của mệnh tạo cũng sức ảnh hưởng mạnh.
• (14) Cung huynh đệ là cung vị biểu hiện của cung điền trạch, có Hóa Quyền, thì đối với việc trang hoàng trong nhà mệnh tạo có yêu cầu thực dụng, có phong cách, hơn nữa, vì Hóa Quyền chủ về biến động lớn, nên gia cụ trong nhà hay thay đổi hoặc dời chuyển, và thường có khách đến thăm, vả lại, không loại trừ trường hợp chính bản thân mệnh tạo cũng thường hay dời chuyển.

Cung Huynh đệ an tại Tý có các sao Hóa Quyền,Phá quân

• Chủ về phải chịu nhịn
• Phá Quân Hóa Quyền ở cung Huynh Đệ, làm tăng thêm tình cảm anh em; chủ về anh chị em sự nghiệp thành công. Phá Quân là chủ Nô Bộc, vì lo cho anh em bạn bè cho nên có thể ra lệnh anh em bạn bè.

Cung Huynh đệ an tại Tý có các sao Hoá Khoa, Hoá Lộc, Hoá Quyền hội hợp

Anh chị em giàu có, quý hiển và thông minh, học giỏi

Cung phu thê

Phu thê cung dùng để phán đoán về tình trạng yêu đương, kết hôn sớm muộn, bối cảnh phối ngẫu, sức khỏe, cá tính, tài mạo, duyên phận giữa vợ chồng, tình cảm, cuộc sống hôn nhân có mỹ mãn hay không, phối ngẫu có giúp ích cho mình hay không. Khi xem cung Phu thê cũng phải tham chiếu đối cung của nó là cung Quan lộc. Bởi vì thường vợ chồng hay chung sức trên sự nghiệp, những vấn đề về sự nghiệp cũng thường phải hỏi ý kiến của phối ngẫu, cuộc sống gia đình với sự thành bại trong sự nghiệp thường là quan hệ nhân quả. Cho nên, vợ (chồng) có giúp cho vận của chồng (vợ), sự nghiệp của chồng (vợ) có hay không ảnh hưởng tới cuộc sống gia đình đều có thể liên quan tới nhau. Cung Sự nghiệp và cung Phu thê đều cát, tự nhiên sự nghiệp sẽ thành, gia đình hòa thuận; Cung Sự nghiệp cát, cung Phu thê không cát, tuy sự nghiệp thành nhưng thiếu đi sức mạnh ổn định từ gia đình; Cung Sự nghiệp không cát, cung Phu thê cát, tuy về mặt sự nghiệp không được như ý, nhưng trong gia đình có sự đồng cam cộng khổ, điều này cũng được an ủi phần nhiều; Cung Sự nghiệp, cung Phu thê đều không cát, không những sự nghiệp gặp phải trắc trở sóng gió, về tới nhà cũng không có được sự ấm áp và ủng hộ.

Xem cung Phu thê, phải xem thêm cung Thiên di và Phúc đức. Bởi vì vận xuất ngoại và sức sống, tâm thái và cuộc sống tinh thần của một người vừa ảnh hưởng tới cuộc sống vợ chồng, vợ chồng chung sống với nhau tốt hay không, mà còn ảnh hưởng tới hành vi khi xuất ngoại của một người và phúc phận hưởng lạc tại gia của người đó. Hai cung đối tượng lân cung Phu thê cũng rất quan trọng, bởi vì con cái của mình liệu có ngoan ngoan thông minh (Tử nữ cung), chị dâu, em chồng có chung sống hòa thuận (Huynh đệ cung) cũng luôn ảnh hưởng tới sự hòa thuật của hôn nhân.

Cung Phu thê an tại Hợi có sao Thái dương

• Người phối ngẫu không ưa bị người khác quản thúc, khá vất vả (vì Thái Dương là sao dịch mã)
• Đàn ông sợ vợ, cả một đời bị vợ quản lý, việc hôn nhân như vậy há có thể mỹ mãn hay sao?
• Họ thích "một nửa kia" là người cởi mở, vui vẻ, không có tâm cơ, dễ hòa đồng với mọi người, thậm chí còn bị xem là phụ nữ mà có tính giống đàn ông; lúc đầu làm bạn bè giao du với họ, bình thường có thể đùa giỡn với nhau thân thiết, lâu ngày dần dần nói tới chuyện ... ? Vì cung phu thê có Thái Dương, thì cung mệnh nhất định có Thiên Cơ, người có Thiên Cơ thủ mệnh phần nhiều rất mẫn cảm và tinh tế, thỉnh thoảng bạn còn phải có hành động giống như một người cha của họ, để khích lệ và làm cho họ ấm lòng, thậm chí có áp lực cao thời điểm quan trọng; họ yêu nhưng hay suy nghĩ lung tung, lại thiếu lực năng lực hành động, nhất định sẽ bị tình yêu nồng nhiệt của bạn làm cảm động, mà rơi vào tình yêu sâu đậm.

Cung Phu thê an tại Hợi có sao Thái dương

• Người phối ngẫu nhiệt tình như lửa, sinh hoạt tính giao kịch liệt mà cuồng nhiệt; song nam mệnh có thể không kham nổi.
• Sau khi kết hôn, sum họp ít mà xa nhau nhiều. Thấy sát kỵ thì chủ về ly hôn.
• Đàn ông sợ VỢ, cả một đời bị vợ quản lý, việc hôn nhân như vậy há có thể mỹ mãn hay sao?
• Họ thích "một nửa kia" là người cởi mở, vui vẻ, không có tâm cô, dễ hòa đồng với mọi người, thậm chí còn bị xem là phụ nữ mà có tính giống đàn ông; lúc đầu làm bạn bè giao du với họ, bình thường có thể đùa giỡn với nhau thân thiết, lâu ngày dần dần nói tới chuyện ... ? Vì cung phu thê có Thái Dương, thì cung mệnh nhất định có Thiên Cơ, người có Thiên Cơ thủ mệnh phần nhiều rất mẫn cảm và tinh tế, thỉnh thoảng bạn còn phải có hành động giống như
một người cha của họ, để khích lệ và làm cho họ ấm lòng, thậm chí có giúp họ vào những thời điểm quan trọng; họ yêu nhưng hay suy nghĩ lung tung, lại thiếu lực năng lực hành động, nhất định sẽ bị tình yêu nồng nhiệt của bạn làm cảm động, mà rơi vào tình yêu sâu đậm.
• Người phối ngẫu không ưa bị người khác quản thúc, khá vất vả (vì Thái Dương là sao dịch mã)

Cung Phu thê an tại Hợi có sao Hóa Kỵ

• Đây là cách cục kết hôn muộn rất phổ biến, người có mệnh cách này thường thường con đường tình cảm rất khó đi, có lẽ không thiếu đối tượng yêu đương, nhưng luôn là kết cục chia tay. Ngoài ra, vì cung phu thê là "tha cung", Hóa Kỵ ở "tha cung" thường thường chủ về tính cách của "một nửa kia" có vấn đề. Do đó, quen nhau sớm thì chia tay sớm, vẫn không bằng nhìn nhiều, nghe nhiều, cần thận chọn cho mình một nửa kia" thật thích hợp. Bởi vì muốn kết hôn sớm vốn không phải chuyện dễ dàng với người có mệnh cách này.
• Điều mệnh chủ thầm lo lắng chính là chuyện tình cảm rất không ổn, rõ ràng mệnh chủ là thật lòng thương yêu một nửa kia, nhưng lại khiến mệnh chủ có cảm nhận lòng tốt của mình bị người ta đánh giá thấp, rất bị tổn thương, hơn nữa, còn vì vậy mà ảnh hưởng đến tâm trạng làm việc của mệnh chủ, đúng là nơi si tình, vùng vẫy không thoát nổi lưới tình. Duyên Vợ chồng khá mong manh, trong tiềm thức mệnh chủ cảm thấy giống như mình mắc nợ người phối ngẫu, rất trân quý người bạn đời mối tình đầu thường khó kết hợp, quá trình kết hôn có hiện tượng không thuận lợi, nên kết hôn muộn, kết hôn sớm sẽ gặp phải khá nhiều tổn thương tình cảm.
• Ắt sẽ ly hôn, nếu thêm sát thì chồng mất
• Phần nhiều kết hôn muộn. Trong cuộc đời ngày mệnh tạo phải "trả nợ" khá nhiều cho người phối ngẫu.
• Là ngầm báo nỗi buồn lo thầm kín nhất của mệnh tạo chính là chuyện tình cảm rõ ràng là mệnh tạo thực sự quan tâm "một nửa kia", nhưng luôn cảm thấy mình mang lòng tốt đi đánh đổi "thứ chẳng ra gì", tóm lại, sẽ bị tổn thương rất nặng, còn vì vậy mà ảnh hưởng tới tâm trạng làm việc, đúng là không thoát được lưới tình.
• Phần nhiều mối tình đầu không có kết quả, sinh hoạt tình cảm không như ý. Nam mệnh sẽ vì nhân tố tình cảm hay gia đình mà ảnh hưởng đến sự phát triển của sự nghiệp. Nữ mệnh thì dễ xảy ra điều tiếng thị phi, vợ đoạt quyền chồng, nặng về sự nghiệp, dễ vì quá quan tâm chồng mà sinh ra hay lảm nhảm, khiến vợ chồng không hòa hợp.
• "Hóa Kỵ" có ý tượng là "mắc nợ" trường hợp cung phu thê có Hóa Kỵ tuy có một số người không cam tâm tình nguyện, nhưng đại đa số đối với một nửa kia" rất tốt, mà còn chung thủy và tận tụy, không bao giờ bỏ nhau, dù có một ngày vì lí do nào đó mà li hôn, cũng sẽ không ký đơn xong rồi phủi tay mặc kệ. Cổ nhân cho rằng cung phu thê thấy Hóa Kỵ là suốt đời phải "trả nợ" cho "kiếp trước" mà phương thức trả nợ thì có rất nhiều, trong đó tình trạng tình cảm vợ chồng rối rắm, không rõ ràng là thường thấy nhất. Một tình hình khác có thể xảy ra là, có lẽ "kiếp trước mệnh tạo quyến rũ quá nhiều người nên kiếp này rất khó kết hôn, dù cố lắm cũng khó thành.
• Cung mệnh, cung tài bạch, cung quan lộc, cung tật ách, cung điện trạch, hay cung phúc đức thấy Hóa Lộc hoặc cung huynh đệ, cung tử nữ, cung thiên di, cung nô bộc, hay cung phụ mẫu thấy Hóa Lộc còn cung phu thê thấy Hóa Kỵ thì hôn nhân sẽ có khuyết điểm, nhưng mức độ đau khổ và cảm giác mất mát của mệnh tạo sẽ khác nhau. Nhất là Hóa Lộc ở cung phúc đức, cung quan lộc, hay cung thiên di, còn Hóa Kỵ ở cung phu thê, tư tưởng tình cảm của mệnh tạo đều dâng tặng cho đối tượng, cho nên thường thường họ sẽ có tinh thần gánh vác và chịu trách nhiệm cho tình yêu của mình.
• Hôn nhân dễ có vấn đề. Hôn nhân có vấn đề không ngoài hai loại: một là kết hôn sớm rồi ly hôn sớm, hoặc kết hôn sớm rồi ly hôn muộn, hai là không không kết hôn hoặc ly hôn muộn.
• Cung phu thê có Hóa Kỵ, tuyệt đại đa số đều từng trải về tình yêu, nhưng lại khó được như ý. Có thể vì bạn quá duy mỹ trong tình cảm, quá cầu toàn trong hôn nhân, mà không chịu chấp nhận một tình yêu có tì vết, hoặc có thể vì bận rộn chuyện khác mà quên đầu tư cho sinh hoạt tình cảm, vô tình không chú ý đến nhu cầu của người yêu, khiến tình yêu của hai người vì vậy mà khô héo. Cá tính của "một nửa kia" là hướng ngoại, không cách nào an phận ở nhà mà cũng không giỏi biểu đạt vì vậy, sinh hoạt tình cảm dễ có trắc trở, lúc sống chung dễ xảy ra va chạm hoặc tranh chấp, chướng ngại giữa hai người càng nhiều. Muốn biết vấn đề chướng ngại gì, hay chuyện đáng tiếc như thế nào thì phải xem tử hóa của chính tinh là loại nào.
• Vợ chồng bất hòa
• Cung Phu thê Hóa Kỵ thêm Sát, nhất định xung khắc trong hôn nhân. Bởi vậy trước khi kết hôn cần tiến hành xem kỹ cung Phu Thê Hóa Kỵ có thêm sát không, nếu có thì tạm thời dừng hôn sự. Cung phu thê Hóa Kỵ mà không có Sát, có thể rơi vào một số trường hợp như sau:
• Vợ chồng ít có thời gian ở bên cạnh nhau
• Sinh hoạt vợ chồng thiếu hòa hợp
• Vợ chồng thường cố chấp coi quan điểm của mình là đúng, không tìm được ý kiến chung
• Hay nghi ngờ và ghen tuông, đồng sáng dị mộng.
• Dưới đây xin tóm tắt các ý tượng cơ bản của trường hợp Hóa Kỵ [năm sinh] ở cung phu thê như sau:
• (1) Mọi tạo tác của Hóa Quyền, Hóa Lộc, Hóa Khoa trong toàn mệnh bàn đều do Hóa Kỵ gánh chịu trường hợp Hóa Kỵ ở cung phu thê, là có ý trông đợi người phối ngẫu gánh vác trách nhiệm thay cho mệnh tạo. Luận ở góc độ người phối ngẫu, là phải chịu đựng quá nặng, còn đối với mệnh tạo thì cũng sẽ vì quá kỳ vọng mà cảm thấy rất hụt hẫng, có thể từ yêu thương biến thành oán hận.
• (2) Trường hợp có Hóa Kỵ đóng trong cung phu thê, tất nhiên sẽ có người đối ứng, tức trong đời mệnh tạo nhất định sẽ có kết hôn, hoặc có một giai đoạn trong cuộc sống sẽ tương tự như quan hệ hôn nhân. Nhưng vì lực tác động của Hóa Kỵ là thuộc loại phức tạp, cần phải chỉnh lý, nếu mệnh tạo kết hôn sớm hoặc yêu đương quá sớm thì tâm lý chưa được chín chắn, dễ chia tay hoặc sẽ có biến động trong hôn nhân (cần phải trải qua sự điều chỉnh về trạng thái tâm lí), đây cũng là ngầm báo kết hôn muộn thì tốt hơn.
• (3) Như đã thuật ở trước các cung lục thân đều có ý nghĩa so sánh với mệnh tạo, trường hợp cung phu thê có Hóa Kỵ luận về vai trò của người phối ngẫu, người phối ngẫu sẽ hướng nội, trầm mặc, hay đa nghi hơn mệnh tạo; nhưng không có nghĩa là người phối ngẫu vốn như vậy, mà đây là mệnh tạo cảm thấy như vậy.
• (4) Luận về vai trò của người phối ngẫu trong kịch bản cuộc đời của mệnh tạo, sau khi hôn nhân thành lập sẽ khiến người phối ngẫu bắt buộc phải đóng vai một người hướng nội, trầm mặc, đa nghi hay đố kị; nhưng muốn phù hợp với vai của mình trong kịch bản, thì người phối ngẫu sẽ khó cảm thấy hạnh phúc trường hợp nghiêm trọng hơn là, cuộc sống hôn nhân là buồn khổ, khó chịu đựng.
• (5) Lực tác động của Hóa Kỵ có tính chiếm hữu, khó hiếu và bất minh. Dưới ảnh hưởng của Hóa Kỵ, cách biểu đạt tình yêu của mệnh tạo sẽ rất dở. Ví dụ như mệnh tạo nhầm lẫn rằng "đánh là tình, mắng là yêu" mà "đánh thật" "mắng thật"; ngoài ra, mệnh tạo còn không yên tâm về người phối ngẫu, hay ghen tuông. Nhưng nếu so sánh, thì người phối ngẫu cũng khó có tình ý với người khác, mà e rằng họ còn ghen tuông hơn mệnh tạo.
• (6) ý tượng của Hóa Kỵ không chỉ là "gánh vác", mà còn có hàm ý "hấp thu", "thiếu". Trường hợp có Hóa Kỵ ở cung phu thê, đối với mệnh tạo, hôn nhân cũng giống như cái hố sâu chứa đầy bất mãn, khó có đối tượng nào làm cho mệnh tạo vừa ý, thỏa mãn hoàn toàn; do đó cuộc sống hôn nhân thường thấy đây ai oán tình sầu. Cùng vì khó vừa ý, thỏa mãn, nếu ở cung phúc đức có sao đào hoa thì sẽ dễ thấy mệnh tạo tìm cơ hội khác.
• (7) Tiếp theo trên, nhưng Hóa Kỵ ở cung phu thê không nhất định sẽ ly hôn, vì Hóa Kỵ còn có ý tượng "rối rắm", "làm phiền". Lúc tính của sao Hóa Kỵ không có tính chất "lập tức", "quả đoán", thì giữa hai người sẽ tương tự như tình trạng "mắc nợ nhau"; thường thường là muốn đứt đoạn mà không đứt đoạn, oán nhau nhưng lại không cách nào rời xa nhau. Muốn biết có ly hôn hay không, thì phải xem cung phúc đức và cung thiên di.
• (8) Do cung phu thê cùng có ý so sánh, trường hợp Hóa Kỵ ở cung phu thê, thường thường chủ về gia thế hoặc gia cảnh của người phôi ngâu không được tốt cho lắm, phần nhiều gia thế hay gia cảnh của mệnh tạo tốt hơn người phối ngẫu. Đại đa số trường hợp, người phối ngẫu phải gánh vác kinh tế gia đình cha mẹ mình. Ngoài ra, trường hợp Hóa Kỵ ở cung phu thê, là người phối ngẫu ở cung vị huynh đệ của cung phụ mẫu, thông thường cũng chỉ về lúc kết hôn, một người trong song thân của người phối ngẫu rất có thể đã qua đời.
• (9) Trường hợp Hóa Kỵ ở cung phu thê, là ở "tha cung", sẽ xung kích cùng quan lộc, là "ngã cung". Nếu còn ở trong thời kỳ đi học, thì chuyện bạn bè trai gái sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến ý nguyện học tập của bản thân mệnh tạo, cũng ảnh hưởng đến thành tích học tập và sự thành tựu về học vấn. Hơn nữa, cung quan lộc còn chủ về lành vực tinh thần, một khi bị xung kích, sẽ ảnh hưởng đến trạng thái tâm lý của mệnh tạo, làm cho tâm tình phiền muộn, khiến phẩm chất của cuộc sống kém đi.
• (10) Ngoài ra, vì cung quan lộc là cung vị đại biểu cho bản lãnh và địa vị xã hội của bản thân mệnh tạo, cung phu thê có Hóa Kỵ, là chủ về sau khi kết hôn, sẽ có ảnh hưởng xấu đối với sự nghiệp của mệnh tạo, mệnh tạo cần phải trải qua một lần chịu ảnh hưởng xấu, mới có thể tìm ra hướng đi mới. Hơn nữa, có thể sau khi kết hôn mệnh tạo sẽ thành người làm chủ cả một gia đình.
• (11) Nếu bản thân mệnh tạo không sáng suốt, hoặc tâm lý chưa được trưởng thành, cung phu thê có Hóa Kỵ sẽ khiến mệnh tạo có khuynh hướng muốn người phối ngẫu chịu đựng các mối họa ập đến, cũng có thể mệnh tạo sẽ mang mọi điều không như ý ở bên ngoài trút lên người phối ngẫu, khiến cho cuộc sống hôn nhân mất đi hương vị ngọt ngào của nó.
• (12) Cung phu thê là cung vị giao dịch của cung phúc đức, trường hợp Hóa Kỵ ở cung phu thê, là chủ về bình thường mệnh tạo có những thị hiếu, hứng thú không được lành mạnh, rất có thể sẽ lãng phí quá nhiều thời gian (như suốt đêm không ngủ để vui chơi), hoặc tiêu xài quá nhiều tiền bạc, có lúc không có thời gian để nghỉ ngơi. Dễ bị tình trạng vui chơi thái quá mà mất hết ý chí phấn đấu.

Cung Phu thê an tại Hợi có các sao Hóa Kỵ, Thái Dương

• Chủ về nữ mệnh thì hình khắc chồng, nam mệnh thì bản thân bất lợi
• Thái Dương Hóa Kỵ nhập cung Phu Thê, nam nữ đều không tốt, thường có hiện tượng thất tình, bị phụ tình, mối tình đầu khó kết hợp, sau kết hôn vợ chồng không hòa hợp, thường xảy ra tranh cãi hoặc người phối ngẫu thường gặp điều không may, bệnh tật. Thái Dương chủ về đàn ông, là chồng, Hóa Kỵ chủ về có mất mát, không có duyên, nữ mệnh gặp Thái Dương Hóa Kỵ là bất lợi cho hôn nhân, có thêm sát tinh, là chủ về tình yêu gặp sóng gió trắc trở dồn dập, thường bị người ngoài cuộc phá hoại, sau kết hôn vẫn khó tránh khỏi tình trạng này. Nếu gặp các sao đào hoa, mệnh chủ có thể sẽ bị tình cảm gây khổ lụy cả đời. Nam mệnh gặp Thái Dương Hóa Kỵ là bất lợi cho sự nghiệp, vì Thái Dương là chủ Quan Lộc, còn Hóa Kỵ ở cung Phu Thê là xung cung Quan Lộc còn chủ về người thân phái nam có mất mát. Thái Dương Hóa Kỵ thủ cung Phu Thê, ở Vượng địa thì không "kỵ" ở hãm địa thì vợ chồng dễ trở mặt bất hòa, Thủy Hỏa không dung nhau.
• Vợ chồng bất hòa

Cung tử tức

Tử nữ cũng dùng để luận đoán một người có bao nhiêu con, cá tính, tư chất, học thức, thành tựu, phát triển, sức khỏe của con cái, và cả việc con cái liệu có hiếu thuận với mình hay không và tình cảm với mình như thế nào. Do việc sinh nhi dục nữ với sinh hoạt vợ chồng trong phòng (điền trạch) có liên quan với nhau, bởi thế mà cung Tử nữ còn có thể dùng phán đoán về ham muốn tình dục và tình trạng đời sống tình dục của bản thân. Mà môi trường nơi ở (điền trạch) tốt xấu cũng ảnh hưởng tới thành tựu của con cái. Biểu hiện của con cái với việc hiếu thuận cũng ảnh hưởng tới việc được mất của điền trạch, cung Tử nữ và đối cung của nó là Điền trạch cung liên quan mật thiết với nhau.

Nhiều người có quan niệm bảo thủ “dưỡng nhi phòng lão” (Nuôi con trai để phòng tuổi già), những điều này có thể do Mệnh cung và Tử nữ cung cùng suy đoán. Cung Tử nữ cát, tuy con cái phú quý, hơn nữa vô cùng hiếu thuận, nhưng nếu Mệnh cung phản ánh bản thân cuối đời cô quả, tức con cái phần lớn sẽ phát triển ở xa, chỉ khi nào lễ tết hiếm hoi mới về nhà đoàn tụ. Bình thường bản thân bệnh tật, nhưng không có được sự chăm sóc từ con cái, cho dù hết lòng chăm sóc con trai, nhưng chưa chắc đã phòng được tuổi già. Mệnh cung cát, Tử nữ cung không cát, tuy con cái chưa trở thành long thành phượng, cũng không thể phụng dưỡng cha mẹ, nhưng bản thân cũng có chút tích lũy, những năm cuối đời cũng không phải ưu tư, không những không phải dựa vào con cái, còn dư sức để chăm sóc chúng, có thể nói để phúc cho con cháu. Nếu Mệnh cung và Tử nữ cung đều không cát, con cái thì không làm được gì, cũng không biết hiếu thuận, những năm cuối đời vẫn phải tiếp tục tự lực cánh sinh, những đứa con bất tài vô dụng vẫn ngửa tay xin tiền bố mẹ, khi đó dưỡng nhi chẳng khác nào gánh nặng chứ chưa nói tới để “phòng lão”.

Cung Tử tức an tại Tuất có sao Vũ khúc

• Phần nhiều khó có con hoặc có con muộn, con cái thường có cá tính cường cường, hay chống đối, lúc còn nhỏ có thể đi học ở xa, thời gian được ở chung với cha mẹ không nhiều. Nếu cung tử nữ có Tham Lang tọa thủ, lại Hóa Lộc, hoặc phụ tinh, là ý tưởng: có thể mệnh tạo còn nhận thêm con nuôi, hoặc có con khác cha (hoặc khác mẹ).Còn "Vũ Khúc, Thất Sát" ở cung tử nữ, tốt nhất là không có thêm sát tinh đồng cung, nếu không, con cái sẽ có cá tính quật cường, bướng bỉnh, cứng đầu cứng cổ, mà trong quá trình sinh đẻ còn gặp hung hiểm hoặc nguy cơ sinh con bị tàn tật với tần suất khá cao. Vì vậy, cần phải kiểm tra sức khỏe định kỳ trước khi sinh, để tránh di truyền các bệnh ngầm cho con cái.
• Chậm muộn có con, có khi chậm đến sau 40 tuổi mới có con cái, mà con cái thì tính nết cương cường, gặp Hóa Kị với Tứ Sát thì chẳng có con
• Nếu là mệnh nữ thì người này mắt cao, không dễ dàng buông tay, cũng không dễ dàng vì tình mà bị lụy, nhưng nếu đã có tình cảm với người đàn ông nào đó thì tình cảm có thể sẽ đổ vỡ
• Không hiếm thì có hại
• Hiếm muộn
• Có con quý tử

Cung Tử tức an tại Tuất có sao Hoá Khoa

• Con cái thông minh lanh lợi, có giáo dục
• Lúc Hóa Khoa Ở cung mệnh, là phù trợ cho hình tượng và thanh danh của mệnh tạo. Người như vậy sẽ cố làm mọi thứ vì vấn đề sĩ diện, bao gồm học hành, ăn mặc, xem trọng lễ nghi và có hành vi che đậy cái xấu, v.v..
• Cách tiêu tiền trong chuyện giao du với người khác giới của Hóa Khoa [năm sinh] khá có lý tính, không xung động như Hóa Quyền [năm sinh, cũng không theo kiểu cảm tính, cảm xúc giống như Hóa Lộc [năm sinh] cho nên sẽ không mua nhà, mua xe tặng đối tượng giao du để mua danh hay lấy lòng cũng hiếm thấy trường hợp tiêu tiền vung tay vì xung động, mà có khuynh hướng chi tiêu trong khả năng của mình. Vì muốn chuyện ngoại tình tiến triển, mệnh tạo sẽ dùng phương thức ném đá dò đường, vừa có thể công vừa có thể thủ, như hẹn hò, tặng quà, ăn tối, chú ý bầu không khí lãng mạn, cho nên sẽ tiêu xài một số tiền cho đối tượng. Nếu đây không phải là hành vi công khai hay hợp pháp, vẫn có thể "bịa" ra lý do hợp lí, không đến nỗi gặp rắc rối.
• Lúc Hóa Khoa (của đại vận hay lưu niên) nhập cung tử nữ, là ý tượng: hộ trợ cho cuộc hùn vốn hợp tác làm ăn này, cũng chỉ về cuộc làm ăn này khá kiện toàn về thể chế, pháp luật và tài vụ. Người có kết cấu này, sẽ không vì xung động mà đầu tư mạo hiểm, cho nên thường thường có thể hợp tác làm ăn để thu lợi nhuận Hóa Khoa ở cung tử nữ cũng chỉ về hiếm khi vì hợp tác đầu tư mà chuốc phiền toái.
• Lúc trung niên, lão niên, con cái có thể thành là quý nhân, tức là có con cái hiếu thuận lúc gặp chuyện, con cái có thể thay mình mà ra sức hoặc ra mặt giải quyết.
• Chủ về con cái không nghịch ngợm, quậy phá hay gây phiền phức, mà rất có khí chất, ngoan hiền không những ưu tú hơn mệnh tạo, mà thành tựu vào tâm tính của chúng thậm chí còn tốt hơn người phối ngẫu xét ở góc độ che chở, bảo vệ có thể thấy tình yêu thương và sự quan tâm chăm sóc của mệnh tạo đối với con cái, không để con cái bị ngoại lực gây tổn hạn, còn hết lòng nuôi dạy con cái thành tài.
• Con cái sáng suốt, nho nhã, biết nghe lời mặt mày sáng láng, hiếu học có thể ít con cái con cái gầy, không mập mệnh tạo sau khi có con sẽ được quý nhân mang lại vận tốt giao tế gặp nhiều đào hoa.
• Con cái là quý nhân của mệnh chủ, con cái của mệnh chủ thông minh lanh lợi, khôn ngoan, có giáo dục, có năng khiếu văn học nghệ thuật, con cái yêu cái đẹp, ở bên ngoài sống hòa mục với mọi người, có duyên với người chung quanh, có duyên với người khác phái. Nếu có sao văn đồng cung, là con cái dễ dạy, đều thuộc mẫu người ôn hòa nhã nhặn.
• Con cái ưu tú
• Con thông minh
• Dưới đây xin tóm tắt các ý tượng cơ bản của trường hợp Hóa Khoa [năm sinh] ở cung tử nữ như sau:
• (1) Hóa Khoa là tượng trưng cho một dạng động thái, cung vị có động thái, cung vị có động thái ắt sẽ sinh ra biến động thay đổi. Trường hợp Hóa Khoa ở cung tử nữ, phần nhiều là chủ về có thể có con, trong một số ít tình huống là chủ về đối tượng đào hoa.
• (2) Các cung lục thân đều có hàm ý so sánh hơn kém với mệnh tạo, Hóa Khoa ở cung tử nữ là chủ về con cái khá ưu tú, tâm tính, tư duy đều bình ổn hơn nữa, phần nhiều là tướng mạo thanh tú, khí chất xuất chúng, nhiều lúc cũng có thể luận đoán mở rộng là con cái có thân hình xinh đẹp, không quá mập.
• (3) Trong mệnh bàn của mệnh tạo, Hóa Khoa [năm sinh] duy nhất đặt ở cung tử nữ, là chủ về mệnh tạo cũng sẽ tận tâm tận lực che chở bảo vệ con cái, trong quá trình sinh đẻ phần nhiều cũng được "gặp hung hóa cát", con cái ít gặp nạn ai.
• (4) Cung tử nữ là cung vị thiên di của cung điện trạch, cho nên trường hợp cung tử nữ có Hóa Khoa, xem từ góc độ cung điện trạch (tức gia đình của mệnh tạo), là người trong nhà trông mong con cái thành tựu. Nhưng vì tác dụng của Hóa Khoa là ổn định, thực dụng, nên cũng chỉ về gia đình mệnh tạo không có kỳ vọng cao xa, cũng sẽ không mong ước hay theo đuổi cuộc sống xa hoa vì vậy an định, bình dị, thực thà, không lo phiền và không có tai họa là những mong ước chủ yếu.
• (5) Cung tử nữ là cung vị chủ về đầu tư hợp tác, ở cung tử nữ thấy Hóa Khoa, là chủ về lúc tiến hành đầu tư phần nhiều mệnh tạo dựa vào lý trí và rất thực dụng. Cũng chủ về việc hùn vốn làm ăn được bình yên thuận lợi, giữa những người hợp tác có chế độ hợp lý và tôn trọng lẫn nhau, đối tượng hợp tác cũng là người bình dị, thật thà, quá trình hợp tác cũng thấy có hòa khí.
• (6) Vì cung tử nữ là cung vị khí số của cung nô bộc, cho nên không chỉ đại biểu cho tố chất của con cái, mà còn có thể dùng để luận giải về bạn bè giao du. Cung tử nữ có Hóa Khoa là chủ về bạn bè qua lại gần gũi, sốt sắng phần nhiều bạn bè là người thấu tình đạt lý, tâm tính thiện lương, không trái với quy củ.
• (7) Cung tử nữ là cung vị biểu hiện (cung vị tài bạch) của cung phụ mẫu, cho nên ý tượng của trường hợp cung tử nữ có Hóa Khoa là cha mẹ có thái độ đối nhân xử thế hòa hợp, bao dung, bình dị, thật thà, là người có trong giới chuyên nghiệp hoặc có sở học tinh chuyên phần nhiều cha mẹ không phải là người trong giới kinh doanh buôn bán, mà là người đi làm hưởng lương (bao gồm nhân viên công vụ), trừ phi là Vũ Khúc Hóa Khoa hoặc có tổ hợp sao đặc biệt khác đồng cung. Vì Hóa Khoa ở cung vị biểu hiện của cung phụ mẫu, nên phần nhiều là cha mẹ sống với nhau yên bình hòa hợp, có tác dụng giáo dục đối với mệnh tạo.
• (8) Cung tử nữ là cung chủ về tiêu xài chi ra, thấy Hóa Khoa là chủ về dùng tiền hợp lý, có quan niệm thu chi cân đối, cho nên đương sự không đến nỗi sùng thượng cuộc sống xa hoa, mà có kế hoạch chi xuất rõ ràng, có lúc cũng chủ về tình hình chi xuất cho vấn đề nào đó một cách lâu dài, đặc biệt là chi xuất cho bảo hiểm hay mua nhà trả góp.
• (9) Do Hóa Khoa ở cung tử nữ, vì vậy sau khi sinh con mới khởi động cơ chế của Hóa Khoa, mới bắt đầu có tác dụng "che chở". Cho nên có thể xem con cái là quý nhân của mệnh tạo. Lúc con cái còn bé, Hóa Khoa ở đây có tác dụng ổn định gia đình, trợ lực cho việc duy trì hôn nhân của mệnh tạo và người phối ngẫu sau khi con cái trưởng thành, Hóa Khoa ở đây có tác dụng ngầm trợ lực cho mệnh tạo.
• (10) Cung tử nữ còn là cung chủ về hưởng lạc, là cung chủ về tình hình hưởng thụ sinh hoạt tình dục Hóa Khoa ở cung tử nữ, là có hàm ý lãng mạn, về tinh thân mệnh tạo được hưởng thụ đầy đủ niềm hoan lạc, tức vợ chồng có sinh hoạt tình dục hòa hợp viên mãn, tình cảm giữa hai người cũng có thể duy trì lâu dài. Nhưng cung tử nữ thấy Hóa Khoa, ngoại trừ hàm nghĩa chú trọng sinh hoạt tình dục, còn ngầm báo ý mất đi sự bình lặng thường có, vì vậy cũng tiềm phục ý tượng ngoại tình.
• (11) Hóa Khoa có hàm ý lâu dài, từ từ, chậm, tăng cường độ hành động vì vậy Hóa Khoa ở cung tử nữ, nếu xảy ra chuyện ngoại tình, thường thường là kéo dài. Hơn nữa, do sức ảnh hưởng của Hóa Khoa có thể thấm vào tận tâm hồn, cho nên nếu có người khác ở bên ngoài thì không phải vì tính dục, mà chỉ vì hợp nhau về tinh thần, cho nên một khi xảy ra ngoại tình thì khó mà đứt đoạn giữa chừng.
• (12) Hóa Khoa vốn chủ về lí trí, lí tính, và tuân thủ quy củ, nhưng một khi xảy ra ngoại tình, thì tình cảm sẽ lừa gạt lý trí, trong tình huống này, lúc lý trí bị phá hoại, cũng là lúc Hóa Khoa mất đi hiệu lực, cho nên, một khi xảy ra ngoại tình thì rất dễ bị phát hiện".

Cung Tử tức an tại Tuất có các sao Hóa Khoa,Vũ khúc

• Chủ về con cái học hành thành tài có ít con
• Vũ Khúc Hóa Khoa ở cung Tử Nữ, là chủ về con cái thông minh, việc học hành có thành tựu thêm sát tinh, có con chết yểu. Tuy mệnh chủ là người tự đánh giá mình rất cao, dù đối phương dùng trăm phương ngàn kế cũng khó mà dao động, nhưng khi đã trải qua một đêm ân ái, mệnh chủ sẽ động lòng và gia tay đầu hàng.

Cung tài bạch

Trong tử vi 12 cung mệnh bàn có các cung liên quan đến tiền tài như cung Tài Bạch, Mệnh, Thân, Quan Lộc, Phúc Đức, Điền Trạch và Thiên Dị.Trong đó, Mệnh, Thân, Tài Bạch, cung Quan Lộc lần lượt tạo thành tam phương cung vị, Thiên Di, Phúc Đức lại lần lượt phân thành tứ chính cung vị của cung Mệnh, cung Tài Bạch, Tài vận, cách kiếm tiền, tiền tài, tài sản của một người và các sự việc liên quan đến tiền tài chủ yếu cần phải xem cung Tài Bạch.

Tài bạch cung là cung sinh tài, dùng để phán đoán tài vận, phương thức năng lực quản lý tài chính, thu nhập cao thấp, tình hình kinh tế, có tích lũy được hay không và các việc liên quan tới tiền tài. Cung Tài bạch buộc phải xem đồng thời với đối cung của nó là cung Phúc đức. Đây là bởi vì một người có thể phát tài hay không còn phải xem anh ta (cô ta) có phúc phận hoặc tích đức hay không, và có hay không tâm thái kiếm tiền, hơn nữa, đời sống tinh thần của một người gồm sự hưởng lạc, tâm thái, phúc phận thường sẽ bị ràng buộc bởi điều kiện kinh tế có cho phép hay không (điều kiện vật chất). Đương nhiên, tài vận của một người cũng chịu những điều kiện thời gian không gian lúc sinh và vận sự nghiệp ảnh hưởng, cho nên cung Tài bạch phải xem cùng với tam hợp hội của nó là Mệnh cung và Quan lộc cung.

Cung Tài bạch an tại Dậu có sao Thiên đồng

• Thiên Đồng là phúc tinh, mẫn cảm và hay thay đổi, đa tài đa nghệ, khá bị động, bảo thủ, thiếu tích cực, không nên kinh doanh buôn bán, nên phát triển về phương diện văn hóa, nghệ thuật, giáo dục, ẩm thực, du lịch, ngành giải trí hoặc giáo dục ấu nhi, chỉ cần có liên quan đến ăn uống, vui chơi, dưỡng sinh, làm cho tinh thần vui vẻ ... đều phù hợp với tính chất của Thiên Đồng.
• Thông thường người ta cho rằng Thiên Đồng là sao đầy tâm hồn trẻ thơ, hồn nhiên, thiện lương, nhưng lại hơi mềm yếu. Thực ra điều này chỉ đúng một nửa, Thiên Đồng là loại sao gặp mạnh thì mạnh theo, gặp yếu thì yếu theo; nó hội hợp với Thái Âm hoặc Cự Môn, đương nhiên trông có vẻ hiền lành; nếu gặp Thiên Lương thì sẽ tăng phần cố chấp; gặp Kình Dương, thì thành võ cách. Các tổ hợp Thiên Đồng ở cung tài bạch như:
• Trong tình hình không tính đến Kình Dương, Đà La,Hỏa Tinh, Linh Tinh; giả sử Thiên Đồng độc tọa ở cung Mão hoặc Dầu, vì tam phương là Thiên Cơ, Cự Môn, nên tổ hợp này sẽ tương tự như tổ hợp "Thiên Đồng, Cự Môn", thích hợp làm công việc có tính chất linh hoạt, nhiều biến động, cần phải vận dụng khẩu tài, có khả năng là giáo sư hoặc chuyên viên nghiệp vụ, cũng có thể làm người chủ trì kênh mua sắm trên đài truyền hình.
• Nếu Thiên Đồng độc tọa ở cung Thìn hoặc Tuất; do tam phường thấy Thiên Lương, Thiên Cơ, cho nên công việc sẽ có tính chất tương tự như tổ hợp "Thiên Đồng, Thiên Lương", làm công việc có liên quan luật pháp hoặc y liệu, có khả năng là bác sĩ hay luật sư, cũng có thể là nhân viên công vụ trong ngành y tế, tư pháp.
• Cách cục Thiên Đồng ở cung Tỵ hoặc Hợi, do cung quan lộc vô chính diệu, hội hợp với "Thiên Cơ, Cự Môn", có thể làm những công việc tự do, không bị gò bó như quảng cáo, sáng tác, tài năng viết lách có thể hơn người, hoặc lập trình phần mềm máy tính; nếu tứ hóa phối hợp không hợp cách, cũng có thể biến thành người làm công ở cửa tiệm, hoặc bán hàng lưu động, bán hàng rong.
• Còn "Thiên Đồng, Thái Âm" vì hội hợp "Thiên Cơ, Thiên Lương", có khả năng biến thành thầy giáo dạy người không biết mệt mỏi, hoặc làm những công việc liên quan đến pháp luật (như bộ phận phụ trách các vấn đề pháp luật của công ti hay tập đoàn); nếu có thêm Địa Không, Địa Kiếp có thể thành nhà tôn giáo đi giảng đạo khắp nơi!
• Tay trắng làm nên tích tiểu thành đại
• Thời trẻ kiếm tiền gian truân, hậu vận hanh thông
• Không thành cự phú, song có thể yên ổn
• Vì ham hưởng thụ mà bỏ mất cơ hội kiếm tiền

Cung tật ách

Tật ách cung có thể tìm hiểu về tình trạng sức khỏe và thể chất của một người, đồng thời có thể suy đoán được bệnh tật các khí quan trong cơ thể và các loại bệnh khác, những khả năng về tai nạn xe cộ cùng những tai nạn phát sinh ngoài ý muốn khác. Xem cung Tật ách thường phải tham chiếu đối cung của nó là cung Phụ mẫu, bởi vì một người thể chất bẩm sinh đều di truyền từ bố mẹ, sức khỏe những năm đầu đời có liên quan tới sự quan tâm yêu thương của bố mẹ. Đồng thời, tình hình sức khỏe của một người cũng thường ảnh hưởng tới tâm trạng và cuộc sống của bố mẹ.

Cung Tật ách an tại Thân có sao Thất Sát

• Chủ về bệnh đường hô hấp, ngoại thương
• Chủ về chứng bệnh phổi, bệnh gan, viêm khớp, bệnh lao, ho ra máu, đại tràng không tốt, ..
• Một khi được khởi động, chúng là đại biểu cho lực xung kích, lực hành động, tác phong rất quả quyết, quyết đoán, thậm chí là mạo hiểm, khiêu chiến và chống đối; biểu hiện của mệnh tạo lập tức khá đi, quá khứ và hiện tại giống như hai người khác nhau, dù mệnh tạo là người vẫn nhã dịu dàng, cũng sẽ vì tiềm năng của "Sát Phá Tham" được kích phát mà tỉnh dậy, dù bình thường lười biếng chỉ thích ngồi suy nghĩ, cũng biến thành đầy sức sống và tràn trề lực xung kích, sẽ trở nên phấn chấn, nỗ lực phấn đấu. Dĩ nhiên, có thể thành tựu hay không, thì phải luận thêm; nhưng sự tích cực của mệnh tạo thì ai cũng thấy, nếu cuộc đời có thành tựu có lẽ là nhờ "Sát Phá Tham" được khởi động.

Cung Tật ách an tại Thân có sao Thất sát

• Chủ về chứng bệnh phổi, bệnh gan, viêm khớp, bệnh lao, ho ra máu, đại tràng không tốt, ..
• Một khi được khởi động, chúng là đại biểu cho lực xung kích, lực hành động, tác phong rất quả quyết, quyết đoán, thậm chí là mạo hiểm, khiêu chiến và chống đối biểu hiện của mệnh tạo lập tức khá đi, quá khứ và hiện tại giống như hai người khác nhau, dù mệnh tạo là người vẫn nhã dịu dàng, cũng sẽ vì tiềm năng của "Sát Phá Tham" được kích phát mà tỉnh dậy, dù bình thường lười biếng chỉ thích ngồi suy nghĩ, cũng biến thành đầy sức sống và tràn trề lực xung kích, sẽ trở nên phấn chấn, nỗ lực phấn đấu. Dĩ nhiên, có thể thành tựu hay không, thì phải luận thêm; nhưng sự tích cực của mệnh tạo thì ai cũng thấy, nếu cuộc đời có thành tựu có lẽ là nhờ "Sát Phá Tham" được khởi động.

Cung Tật ách an tại Thân có sao Thất Sát

Mặt có vết, lúc nhỏ tuổi sức khỏe rất kém

Cung quan lộc

Cung Quan Lộc phần ánh sự nghiệp và con đường học hành của một người, có thể tạo dựng sự nghiệp, có các cung liên quan đến tiến tài, và thích hợp với ngành nghề nào,những điều này là cơ sở của việc tạo ra tiến bạc. Do đó, Tài Bạch và cung Quan Lộc hỗ trợ lẫn nhau, hậu thuẫn lẫn nhau và cũng ảnh hưởng lẫn nhau.

Quan lộc cũng thường gọi là cung Sự nghiệp hoặc cung Học hành, phàm là có liên quan tới thành bại trong sự nghiệp, phù hợp với nghề nghiệp, có thể sáng tạo sự nghiệp hay không, thành tích học tập xuất sắc hay yếu kém (Người xưa học xuất sắc, đỗ đạt mới có thể làm quan, sự nghiệp mới dễ thành công), chức vụ cao thấp, quan hệ với cấp trên, cơ hội thăng tiến và những việc cát hung liên quan tới sự nghiệp đều có thể hiện thị tại cung này. Luận cát hung của cung Quan lộc buộc phải tham chiếu đối cung của nó là cung Phu thê, điểm này đã nói qua tại Phu thê cung. Đồng thời, luận sự nghiệp thành bại phải xem kết hợp tam hợp hội của cung này là Mệnh cung và Tài bạch cung mới linh nghiệm.

Cung Quan lộc an tại Tị có sao Cự môn

• Chủ về có tai họa ngục tù
• Công tác cần vận dụng tài nói chuyện, như giáo dục, tiếp thị.
• Công tác có liên quan tới tranh chấp kiện tụng, như luật sư chẳng hạn.
• Công tác có liên quan tới việc truyền bá tin tức, như là môi giới, công tác báo chí, xướng ngôn viên đài truyền hình, truyền thanh, vv..
• Công tác ở các công ty nổi tiếng.
• Công tác cần phải lao tâm tổn trí.

Cung Quan lộc an tại Tị có sao Cự môn

• Thích hợp làm mọi công tác có liên quan tới việc phát huy khẩu tài
• Công danh hiển đạt, có văn tài lỗi lạc
• Chủ về có tai họa ngục tù
• Công tác cần vận dụng tài nói chuyện, như giáo dục, tiếp thị.
• Công tác có liên quan tới tranh chấp kiện tụng, như luật sư chẳng hạn.
• Công tác có liên quan tới việc truyền bá tin tức, như là môi giới, công tác báo chí, xướng ngôn viên đài truyền hình, truyền thanh, v.v..
• Công tác ở các công ty nổi tiếng.
• Công tác cần phải lao tâm tổn trí.

Cung Quan lộc an tại Tị có sao Cự môn

Công danh trắc trở, chức vị nhỏ thấp hay gặp tai ương

Sao Cự Môn trong cung Quan Lộc

Giàu tinh thần nghiên cứu, giỏi ăn nói, làm việc chăm chỉ, có thể làm được nhiều công việc tính chất khác nhau, không sợ nguy hiểm, không sợ chán nản, nên làm việc có dùng đến tài ăn nói, và dựa vào sự chuyên nghiệp để kiếm tiền, danh tiếng càng lớn,phát triển càng tốt.

nô bộc

Bộc dịch cũng thường gọi là cung Giao hữu, dùng để phán đoán quan hệ với đồng nghiệp, bạn làm ăn, cấp trên, bạn bè, cấp dưới, và cả nhân phẩm của họ, sẽ phù hộ hay phá hoại mình. Cung Bộc dịch gián tiếp có thể xem được độ lớn nhỏ của sự nghiệp người đó, có thể đảm nhiệm lãnh đạo hay chủ quan hay không, bởi vì được tiền hô hậu ủng hay mọi người xa lánh đều có sự ảnh hưởng khác biệt tới quy mô sự nghiệp. Cung này khi suy luận quan hệ nhân tế phải tham chiếu đối cung của nó là cung Huynh đệ, tìm hiểu tình cảm đậm nhạt của anh chị em trong gia đình, mới có thể tổng kết người đó có hay không sức mạnh bảo hộ từ bên ngoài.

Cung Nô bộc an tại Ngọ có sao Thiên tướng

Có trợ lực, trung thành đáng nhờ cậy, đạo đức cao thượng

Cung Nô bộc an tại Ngọ có sao Thiên tướng

Kẻ dưới không trung thành, gây ra nhiều việc rắc rối mà thân tâm rối loạn

Cung Nô bộc an tại Ngọ có sao Liêm trinh

Vô ơn mình

Cung Nô bộc an tại Ngọ có sao Hoá Lộc

• Bạn bè giao lưu đều là những người giàu có, có thân phận trong xã hội
• Mệnh chỉ có duyên với bạn bè, sống hòa hợp với nhau, được nhiều bạn bè giúp, có thể nhờ sức của bạn bè mà được lộc ăn, lộc tiền bạc. Thích hợp mưu sinh ở doanh nghiệp tư nhân, những nơi náo nhiệt đông người sáng lập sự nghiệp khá dễ kiếm tiền, hoặc kiếm tiền ở phương xa. Giỏi giao tế, thù tạc nhiều, lúc hưởng thụ sẽ khó tránh khỏi một số nợ phong lưu, và họa sắc tình.
• Chủ về thích kết giao bạn bè
• Chủ về mệnh tạo giao du nhiều bạn bè đều lấy tình nghĩa chân thật ra đối đãi, nhiều người trong số họ chỉ là bạn bè vui chơi, mệnh tạo trong thời kỳ còn đi họ, rất có thể số bạn bè này đã dẫn dụ khiến mệnh tạo không chuyên tâm học hành, nhưng mệnh tạo vẫn lấy sự thành tựu của bạn bè làm vinh dự trong nghề nghiệp, mệnh tạo có cơ hội được trời ưu đãi, có được mối quan hệ giao tế đặc biệt (hay được bậc trưởng bối) quan tâm chiếu cố, đề bạt.
• Tuy làm quan nhưng nay đây mai đó
• Dưới đây xin tóm tắt các ý tượng cơ bản của trường hợp Hóa Lộc [năm sinh) ở cung nô bộc như sau:
• (1) Hóa Lộc có hàm nghĩa là "nhiều", vì vậy trường hợp cung nô bộc có Hóa Lộc là chủ về mệnh tạo có bạn bè qua lại nhiều, bản thân mệnh tạo cũng thích giao du bạn bè. Nói một cách khác, cá tính hướng ngoại.
• (2) Vì Hóa Lộc ở cung nô bộc, nên sự bày tỏ tình cảm, kì vọng đều xảy ra ở cung nô bộc. Về tình cảm, bản thân mệnh tạo đối xử khá tốt với bạn bè, cũng sẽ đơn phương cho rằng bạn bè sẽ đối xử tốt giống như mình.
• (3) Hóa Lộc ở cung nô bộc, là mệnh tạo sẽ mang kì vọng, mộng tưởng của mình kí thác ở bạn bè, và hi vọng họ trợ giúp. Nếu cung nô bộc phi hóa có lợi, thì mệnh tạo sẽ có được mối quan hệ đặc biệt, gặp quý nhân, họ sẽ nâng đỡ mệnh tạo.
• (4) Vì Hóa Lộc khác với Hóa Khoa, Hóa Lộc chủ về tình cảm, và liên quan đến tiền bạc, vật chất, cho nên bạn bè đối với mệnh tạo, nếu muốn ra tay tro giúp, tất sẽ có thực chất, chớ không phải chỉ ủng hộ về mặt tinh thần.
• (5) Nếu so sánh với mệnh tạo, Hóa Lộc ở cung nô bộc là bạn bè đa tình hơn, có tình người hơn mệnh tạo. Ngược lại, bản thân mệnh tạo không giỏi biểu đạt sự nhiệt tình, hoặc ngôn từ không đạt ý, nhưng đối với bạn bè cũng thường âm thầm trợ giúp.
• (6) Hóa Lộc ở cung nô bộc chủ về bạn bè đa tình, những người mệnh tạo giao du thiên nặng cảm tính hơn lý tính hơn nữa, phần nhiều là người có tình cảm, nhưng không chủ Về có sự chân tình giữa bạn bè, mà phải xem cung nô bộc phi hóa thế nào mới định được.
• (7) Cung nô bộc là "tha cung", dù cung nô bộc phi hóa có ý tượng trợ lực cho mệnh tạo, bình thường đúng là bạn bè có sự giúp đỡ đắc lực, nhưng một khi Hóa Lộc chuyển sang Hóa Kỵ, thì hi vọng sẽ tiêu tan.
• (8) Tình cảm của Hóa Lộc không phân biệt đối tượng, cho nên tùy theo tính của sao hóa, về tình cảm có thể giữa bạn bè dễ xảy ra chuyện tranh chấp khó giải quyết, hoặc bạn bè được nâng cấp thành "bạn bè tốt", nhưng "bạn bè ăn nhậu" cũng không ít.
• (9) Vì cung nô bộc là cung vị khí số của cung phụ mẫu, mà cung phụ mẫu có thể xem về học hành, một khi cung nô bộc có Hóa Lộc, cộng thêm các luận thuật ở trên về cá tính của mệnh tạo, thì việc học hành thường không được chuyên tâm, rất dễ có hành vi và thường hay suy nghĩ về chuyện "phong hoa tuyết nguyệt", ảnh hưởng đến việc học hành.
• (10) Cung nô bộc là cung vị khí số của cung phụ mẫu, Hóa Lộc ở cung nô bộc, có thể luận cha mẹ có nhiệt tâm và đa tình, cha mẹ sống với nhau hòa hợp nhưng cũng phụ mẫu còn có thể dùng để luận về cấp trên trong môi trường làm việc, trường hợp này có thể luận cá tính của cấp trên không tệ, hoặc có chiếu cố mệnh tạo.
• (11) Tuyến "huynh nô" có thể là điềm báo tai hại bất ngờ. Trường hợp Hóa Lộc ở cung nô bộc, có thể sẽ bị Hóa Kỵ phá hoại, lúc đại vận hình thành tình huống Hóa Lộc chuyển sang Hóa Kỵ, thành "Song Kị" xung cung huynh đệ, thường thường có ẩn chứa nguy cơ.
• (12) Lúc cung nô bộc làm cung vị biểu hiện của cung tử nữ, có thể luận là con cái hòa hợp với mệnh tạo. Ngoài ra, còn có thể đoán về biểu hiện hợp tác. Hóa Lộc ở cung nô bộc chỉ chủ về hiện tượng bên ngoài của việc hợp tác làm ăn, muốn xem tình hình thu lợi thế nào, cần phải xem phối hợp cùng nô bộc và tam phương của nó mới có thể định được tình hình cát hung của việc hợp tác.

Cung Nô bộc an tại Ngọ có các sao Hóa Lộc,Liêm trinh

• Chủ về quan hệ tình thâm, hòa hài với nhau. Cung giao hữu thì chủ về thuộc hạ trung thành, bạn bè có niềm vui hữu nghị.
• Liêm Trinh Hóa Lộc ở cung Nô Bộc, thường hay thù tạc với bạn bè, khó tránh chuyện tửu sắc, cờ bạc bạn bè phần nhiều là người tự cao tự đại. Người dưới quyền chịu nghe lời, thuộc cấp đắc lực, có thể giúp chủ thành công.
• Đào hoa: Giữa nam và nữ có quan hệ không chính đáng, như quan hệ giữa người đã kết hôn hoặc là quan hệ yêu đương giữa người đã kết hôn và người chưa kết hôn, hay nói cách khác, phàm là người có quan hệ tình cảm bên ngoài với chồng Vợ thì đều gọi là "đào hoa"

Cung Nô bộc an tại Ngọ có các sao Hoá Khoa,Hoá Lộc, Hoá Quyền hội hợp

Người giúp việc khá giả nhưng hay lấn át người trên, bạn bè có lòng tốt và rất quý hiển.

Cung thiên di

Cung Thiên Di, dùng để phán đoán việc xuất ngoại, năng lực hoạt động.tài năng,thăng tiến, năng lực xã giao, quan hệ xã hội của một người và hung cát của các sự việc có liên quan đến quan hệ đối ngoại và hoạt động di chuyển. Do đó, cung Thiên Di quyết định nguyên động lực của việc kiểm tiền, do đó mà ít nhiều ảnh hưởng đến tiền tài.

Thiên di cung dùng để phán đoán vận xuất ngoại, phát huy tài năng, biểu hiện của sức sống. Sự cát hung của mọi việc liên quan tới sự dịch chuyển, quan hệ đối ngoại đều được luận đoán ở cung này, như du lịch, di dân, chuyển di, đi xe an toàn, thăng di, tai họa khi xuất ngoại, năng lực giao tiếp xã hội, quan hệ giữa người với người, thương mại, chuyển việc, điều chuyển chức vụ... Cung Thiên di có sự ảnh hưởng tuyệt đối lớn tới Mệnh cung, bởi vì vận xuất ngoại và sức sống của một người ảnh hưởng lớn tới vận mệnh của người đó, các Tinh diệu trong cung Thiên di càng ổn định, thì người đó càng yên ổn may mắn; ngược lại, gặp phải nhiều sóng gió vất vả, nhiều tại lắm nạn. Tương phản với đó, Mệnh cung có sức mạnh chi phối cung Thiên di, bởi vì cá tính, tài năng, cơ vận của một người ảnh hưởng tới vận xuất ngoại và sức sống của người đó, hai cung buộc phải gắn với nhau như hình với bóng mới linh nghiệm.

Người có cung Thiên di cát, sẽ có những hiện tượng dưới đây:

1. Sự dịch chuyển trong cuộc đời khá nhiều, có nhiều cơ hội di cư hoặc di dân.

2. Khi còn nhỏ thì chuyển đi theo bố mẹ, hơn nữa dễ có hiện tượng sống xa quê hương.

3. Thường cư trú, làm việc, học tập ở đô thị lớn.

4. Thường theo đuổi sự nghiệp phát triển hướng ngoại, như thăm quan du lịch, truyền thông, công quan, giao thông vận tải, thương mại...Thường gặt hái được nhiều.

5. Có quan hệ nhân tế tốt đẹp.

Người có cung Thiên di không cát, sẽ có hiện tượng dưới đây:

1. Xuất ngoại phát triển không thuận lợi, ít có thành tựu, tinh thần ngày càng cô độc.

2. Không thuận lợi trong du lịch đường dài, dễ phát sinh tai nạn ngoài ý muốn.

3. Không thích hợp với những công việc phát triển hướng ngoại.

Cung Thiên di an tại Mùi có sao Thiên Lương

• Là người có biểu hiện xuất sắc, còn có thể tĩnh tâm học hành, thông minh, có trí, lanh lợi, có sức thuyết phục. Nhưng do tư duy hay thay đổi, nên trong quá trình thành việc, thường suy nghĩ quá nhiều hoặc cố gắng cầu toàn mà thành tự trói buộc tay chân. Vì vậy, người có mệnh cách này thường mong mỏi hành vi của họ được công nhận, khẳng định, thậm chí là được bảo vệ. Có điều phải lo là mệnh tạo làm việc thiếu nguyên tắc, cho nên sẽ trông mong được ổn định bình hòa, và bảo vệ được tiền đồ.
• Thiên Lương là sao cô độc, chủ về tôn giáo, còn là sao chủ về y dược; nếu cung thiên di là Thiên Lương tọa thủ, có thể "người ấy" là bác sĩ, y tá, nhân viên y tế, chuyên viên thiết bị y tế, hay nhân viên phân phối dụng cụ y khoa, v.v... Tóm lại, nghề nghiệp của "người ấy" có liên quan đến ngành y dược. Ngoài ra, Thiên Lương cũng có thể là nhân viên công vụ, nhất là làm những công việc liên quan đến pháp luật (như bộ phận phụ trách các vấn đề pháp lý của công ty hay tập đoàn). Ngoài ra, lúc Thiên Lương đồng cung với Địa Không, Địa Kiếp, do ảnh hưởng của hai sao này. Thiên Lương sẽ phát huy về phương diện tôn giáo, huyền học, làm những công việc có liên quan đến tôn giáo hay mệnh lý; ở thời cổ đại người có mệnh cách này phần nhiều là người hành nghề tôn giáo kiêm thầy thuốc.
• Ra ngoài giàu to
• Ra ngoài buôn bán làm giàu

Sao Thiên Lương trong cung Thiên Di

Ra bên ngoài có cơ duyên, có quý nhân, bề trên giúp đỡ, thích du lịch, thích tham gia văn nghệ, đoàn hội phục vụ quần chúng.

Cung điền trạch

Điền trạch cũng dùng để phán đoán một người có kế tục sản nghiệp của tổ tiền hoặc các việc liên quan tới đất đai và nhà cửa như tự trí bất động sản, hoàn cảnh cư trú thế nào. Cung Điện trạch phải tham chiếu đối cung của nó là cung Tử nữ, bởi vì sự ra đời của con cái cố nhiên liên quan tới việc sinh hoạt vợ chồng trong nhà, phong thủy của bố trí bất động sản và môi trường cư trú có quan hệ mật thiết với con cái.

Ví dụ, Phong thủy môi trường nơi ở phải xem xét tới sự ham học và việc làm của con cái, con cái có biểu hiện hiếu thuận hay không, sẽ ảnh hướng tới việc được mất của điện trạch. Đem bất động sản tặng cho con cái (Bất động sản giảm đi), con cái tặng hoặc hỗ trợ mua thêm bất động sản (bất động sản tăng thêm)...

Cung Điền trạch an tại Thìn có sao Tham lang

• Chỗ vượng địa, chủ về sự sung túc đầy đủ, phần nhiều trước nghèo sau giàu, gần nơi sinh sống có quán ăn, đồn công an, cầu, cây cối cao lớn, cột điện, trong sân có vật chất đống
Tay trắng làm giàu, nhưng ba bốn lần mới thành

Cung Điền trạch an tại Thìn có sao Tham lang

• Không có gia sản của tổ tiên để giữ, hoặc gia sản của tổ tiền dần dần bị tiêu tan.

Cung Điền trạch an tại Thìn có sao Tham lang

Chỗ vượng địa, chủ về sự sung túc đầy đủ, phần nhiều trước nghèo sau giàu, gần nơi sinh sống có quán ăn, đồn công an, cầu, cây cối cao lớn, cột điện, trong sân có vật chất đống

Cung Điền trạch an tại Thìn có sao Tham Lang

Nếu có nhà đất của tổ nghiệp để lại, rồi cũng phá tán hết hay là phải lìa bỏ mà không được thừa hưởng, gây dựng cơ nghiệp rất vất vả, chật vật may mắn lắm về già mới có nhà ở chắc chắn

Sao Tham Lang trong cung Điền Trạch

Dễ được ở nơi hào hoa náo nhiệt, nhà cửa thoải mái, tự mua nhà đất tương đối muộn, những năm đầu chuyến nhiều nơi, trung niên về nhà bắt đầu tích cực mua nhà đất.

Cung phúc đức

Cung Phúc Đức là cung đối của cung Tài Bạch, dùng để quan sát nhân sinh quan,thái độ kiếm tiền, kiếm tiền có dễ không, mức độ hưởng thụ cuộc sống, hành vi đạo đức của một người. Cung Phúc Đức và hành vi của cá thể liên hệ mật thiết với nhau, mọi người thường nói "thiện có thiện báo, ác giả ác báo". Một người có thể có tài vận tốt hay không,căn cứ vào lý luận của tử vi đẩu số, cần phải xem cung Phúc Đức là bản thân có phúc phận hoặc có làm việc thiện hay không.

Tâm thái, phúc phận, thọ mệnh, hưởng lạc, hành vi đạo đức, nhân sinh quan lạc quan hoặc bị quan), hứng thú, sở thích, ổn định tâm trạng... sự cát hung liên quan tới đời sống tinh thần của một người đều phản ánh ở cung này. Cung Phúc đức buộc phải xem cùng với đối cung của nó là cung Tài bạch, cố nhiên là vì tài vận phải xem phúc phận và tích đức, tình trạng kinh tế tốt xấu cũng ảnh hưởng tới việc có thể hưởng phúc hay không.

Sự bố trí vị trí các cung trong Tử vi không chỉ phản ánh sự trải nghiệm quan trọng trong cuộc đời của mỗi cá nhân mà còn là thể hiện các tình tiết quan trọng trong văn hóa cổ đại. Ví dụ: Sự bố trí Cung lộc và cung Phúc đức thể hiện sự coi trọng và mong ước của người xưa đối với Phúc - Lộc - Thọ. Từ hình bên có thể thấy dân gian cũng thường thờ Tiên ông Nam cực (Thọ Tinh) và Phúc Tinh - Lộc Tinh để mong ước Phúc vận - Cung lộc và thường thọ.

Cung Phúc đức an tại Mão có sao Thái âm

• Thái Âm là mặt trăng, lúc ở cung phúc đức, khó tránh sẽ lo nghĩ nhiều, thiên nặng cảm tính và xem trọng ý vị cuộc sống, thì sống ung dung nhàn nhã cho qua ngày tháng. Mệnh tạo rất có "gen" nghệ thuật, nếu Thái Âm ở cung vị miếu, vượng, có thể về già được hưởng phước, cá tính cũng khá cởi mở hoạt bát, về tình cảm họ thích lãng mạn, là người biết theo đuổi ý vị cuộc sống; nếu Thái Âm ở cung vị lạc hãm, họ là người tình cảm phong phú, tâm tình bất định, lơ lửng, tản mạn, hoặc chìm trong ảo tưởng, tự cho mình hoặc tự tưởng tượng mình là ý trung nhân của người ta, cách suy nghĩ không thoáng, ưa đâm đầu vào những việc không giải quyết được, do đó hôn nhân đương nhiên cũng sẽ xảy ra khá nhiều biến số, cũng dễ khốn khổ vì tình.
• Ưa thích hưởng thụ sự yên tĩnh, thanh nhã, cuộc sống có hương vị riêng. Ở cung độ miếu vượng thì tâm tình vui vẻ, ưa thích ảo tưởng, không thích cạnh tranh danh lợi trong thế giới hiện thực.

Cung Phúc đức an tại Mão có sao Thái âm

Bạc phúc nên tuổi thọ bị chiết giảm, suốt đời vui ít buồn nhiều, lao tâm khổ tứ, nên lập nghiệp ở nơi thật xa quê hương có sớm xa cách gia đình mới mong được yên thân, họ hàng ly tán, nhiều người cùng khổ, cô đơn, mang ác tật, phiêu bạt giang hồ hay mắc tại nạn mà chết một cách thê thảm, đàn bà con gái trong họ rất vất vả về chồng con

Sao Thái Âm trong cung Phúc Đức

Tao nhã lịch lãm, ôn hòa ổn định, chú trọng chất lượng cuộc sống, có sự bổi dưỡng nghệ thuật. Sao Thái Âm trong cung Dậu, có thế nhận được sự che chở của tổ tiên, tỉnh thần lạc quan ổn định.

Cung phụ mẫu

Phụ mẫu cũng có thể nhìn ra được bối cảnh gia đình, địa vị bố mẹ, tình cảm sâu đậm hay lạnh nhạt của người đó với bố mẹ, có khoảng cách thế hệ với bố mẹ hay không, có được hưởng phúc do bố mẹ để lại hay không, có thể hiểu theo nghĩa rộng là có được bố mẹ chăm sóc, cũng có thể suy ra được cá tính, sức khỏe, thành tựu của bố mẹ. Cung Phụ mẫu buộc phải cùng xem với cung Tật ách, Bộc dịch và Tử nữ, điều này là bởi vì bản chất bẩm sinh của một người là do di truyền của bố mẹ, hơn nữa cơ thể lớn lên cũng là do bố mẹ chăm bẵm, tình trạng thể năng của một người cũng ảnh hưởng tới " mức độ quan tâm yêu mến của bố mẹ.

Bố mẹ lo lắng những người bạn kết giao, lo sợ việc con cái gần mực thì đen; Bố mẹ lo lắng nhất là con cái “bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”, thường chỉ việc nối dõi tông đường, con cái của bản thân cũng là trọng tâm quan tâm của bố mẹ.

Mọi cung vị trong Mệnh bàn của Tử vi đều lấy Mệnh (Thân) cung làm trung tâm, luận đoán cát hung họa phúc của các cung khác đều phải tham chiếu Mệnh (Thân) cung.

Cung Phụ mẫu an tại Dần có sao Tử vi

Cha mẹ khá giả

Cung Phụ mẫu an tại Dần có sao Thiên phủ

Trong nhà của "người ấy" rất có thể có nhân vật tai to mặt bự, có tiền có thế, uy lực vô cùng, nếu có thêm Hóa Lộc, Hóa Quyền, thì thậm chí có thể là chủ của một công ti lớn. Được lấy chồng hay vợ như vậy, đương nhiên là ăn mặc không sợ thiếu; nhưng trong đại gia đình, bạn có thể phải đối mặt với rất nhiều biến số, đó có thể là sẽ đụng chạm với cha mẹ chồng!

Cung Phụ mẫu an tại Dần có sao Tử vi

Trong nhà của "người ấy" rất có thể có nhân vật tại to mặt bự, có tiền có thế, uy lực vô cùng, nếu có thêm Hóa Lộc, Hóa Quyền, thì thậm chí có thể là chủ của một công ty lớn. Được lấy chồng hay vì như vậy, đương nhiên là ăn mặc không sợ thiếu; nhưng trong đại gia đình, bạn có thể phải đối mặt với rất nhiều biến số, đó có thể là sẽ đụng chạm với cha mẹ chồng!

Cung Phụ mẫu an tại Dần có các sao Thiên phủ, Tử vi

• Được cha mẹ lo lắng chăm sóc, dạy dỗ. Thấy thấy sát diệu là chủ về quan hệ bất hòa, song không hình khắc, không bị tai ách tật bệnh. Thấy sao lộc thì chủ về có cha mẹ giàu có..
• Cha mẹ vinh hiển, gia đình yên vui, phúc lộc dồi dào